vanban.org

Bản án 30/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng Tuyên án 05/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Tuấn S phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Tuấn S 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/4/2023 Án phí HSST: Bị cáo Nguyễn Văn Tuấn S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Văn Tuấn S bị truy tố tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại Khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Tuấn S phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGŨ HÀNH SƠN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2023/HSST
Ngày 05/6/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN TP ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trâm

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân Quận Ngũ Hành Sơn TP Đà Nẵng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 27/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Tuấn S - Giới tính: Nam.

Sinh năm: 14/12/1995 tại: thành phố Đà Nẵng;

Nơi ĐKHKTT: nhà số 162/16 đường Đ, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: LĐPT; trình độ văn hóa: 9/12

Tiền án, tiền sự: không.

Họ và tên cha: Nguyễn Văn T (SN: 1965; còn sống).

Họ và tên mẹ: Phan Thị V (SN: 1967; còn sống).

Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con út.

Vợ: Trần Thị Ngọc T (SN: 1993; đã ly hôn).

Có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017.

Bị cáo bị bắt ngày 25/4/2023, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

1. Ông Lương T. Sinh năm: 1971; Trú tại: Khu F, phường H, quận N, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.

2. Ông Đặng Q. Sinh năm: 2001; Trú tại: Tổ 36, phường H, quận N, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Ông Đồng Quốc T. Sinh năm: 1993; Trú tại: Xã H, huyện H, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

- 1 -

Khoảng 02 giờ ngày 25/4/2023, Nguyễn Văn Tuấn S điều khiển xe mô tô Exciter BKS: 43C1-307.95 từ phòng trọ tại địa chỉ nhà số 72 đường H, phường A, quận S đến khu vực N để đi bỏ bả bắt mèo, trên đường đi thì S phát hiện 01 lán trại tại khu vực công trình F thuộc phường H, quận N không khóa cửa nên S lén lút vào thì thấy anh Lương T (SN: 1971; trú: khu F, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng) đang nằm ngủ, bên cạnh có để 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 màu xanh nên S trộm cắp rồi tiếp tục điều khiển xe đi bả bắt mèo, khi đến khu vực lán trại thuộc tổ 37, phường H, quận N nhìn thấy 01 lán trại không khóa cửa nên S đi vào, phát hiện anh Đặng Q (SN: 2001; trú: tổ 36, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng) đang nằm ngủ, bên cạnh có để 01 điện thoại di động Iphone 8plus nên trộm cắp rồi đi ra ngoài. Lúc này, anh Q thức dậy phát hiện S trộm cắp nên đuổi theo bắt giữ S cùng tang vật là 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 plus màu đỏ, 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 màu xanh và 01 xe mô tô Exciter BKS: 43C1-307.95. Sau đó, anh Q gọi điện báo sự việc cho Công an phường H, quận N.

Theo Kết luận định giá tài sản số 26 ngày 27/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận Ngũ Hành Sơn kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 trị giá 820.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8plus trị giá 2.250.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 3.070.000 đồng.

* Tang vật:

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7. Đã trả lại cho anh Lương T.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8plus. Đã trả lại cho anh Đặng Q.

- 01 xe mô tô Exciter BKS: 43C1-307.95. Qua điều tra xác minh, đây là xe S thuê (có hợp đồng) của tiệm cầm đồ do ông Đồng Quốc T (SN: 1993; trú: xã Hòa L, huyện H, thành phố Đà Nẵng) làm chủ. Việc S sử dụng xe để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nêu trên ông T không biết, do đó cơ quan CSĐT Công an quận N, thành phố Đà Nẵng đã trả lại cho ông Đồng Quốc T.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố theo Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ-VKS-NHS ngày 19/5/2023 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Nguyễn Văn Tuấn S phạm tội “Trộm cắp tài sản” đồng thời đề nghị:

- Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 phạt bị cáo Nguyễn Văn Tuấn S từ 06 tháng đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/4/2023.

- Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì về dân sự nên không xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên.

Ý kiến của người bị hại về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình giải quyết, nguời bị hại – ông Lương T và ông Đặng Q có yêu cầu xử lý nghiêm hành vi phạm tội của bị cáo.

- 2 -

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ngũ Hành Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn Tuấn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại cùng các tài liệu điều tra thu thập đầy đủ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 02 giờ ngày 25/4/2023, tại khu vực lán trại FPT địa chỉ: phường H, quận N và khu vực lán trại thuộc tổ 37, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng, lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản Nguyễn Văn Tuấn S đã lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 màu xanh trị giá 820.000 đồng của anh Lương T và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8plus trị giá 2.250.000 đồng của anh Đặng Q. Tổng giá trị tài sản trộm cắp Nguyễn Văn Tuấn S chiếm đoạt là 3.070.000 đồng.

Hành vi trên đây của bị cáo Nguyễn Văn Tuấn S đã phạm vào tội "Trộm lý tài sản" quy định tại khoản 1 điều 173 của BLHS. Do đó Quyết định truy tố số 01/QĐ-VKS- NHS ngày 19/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn đã truy tố là có cơ sở, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội thì thấy: Do ý thức coi thường pháp luật, lười lao động nhưng lại muốn có tiền để tiêu xài cho bản thân một cách dễ dàng và nhanh nhất nên bị cáo đã bất chấp tất cả để thực hiện hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất liều lĩnh, táo bạo, nguy hiểm cho xã hội, nó không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân đây là một trong những khách thể quan trọng luôn được pháp luật bảo vệ mà còn gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân, gây mất ổn định trật tự trị an xã hội tại địa phương.

Xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo cũng đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; hành vi phạm tội của bị cáo gây thiệt hại không lớn nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách

- 3 - nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 BLHS để xem xét quyết định hình phạt cho bị cáo.

Về biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì về dân sự nên không đề cập giải quyết.

Xét các nội dung đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, điều khoản luật và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần áp dụng đối với bị cáo tại phiên tòa cơ bản phù hợp các nhận định của Hội đồng xét xử.

Án phí HSST: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Tuấn S phạm tội "Trộm cắp tài sản".

1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Tuấn S 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/4/2023

2. Án phí HSST: Bị cáo Nguyễn Văn Tuấn S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai, bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng những người vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ