vanban.org

Bản án 30/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 23/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TAND QUẬN NAM TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 30/2023/HSST
Ngày: 23/02/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vinh

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Sơn và ông Vương Đình Quang

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Kim Yến

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Minh Ngọc – Kiểm sát viên.

Trong ngày 23/02/2023, tại trụ sở TAND quận N, thành phố Hà Nội, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 14/2023/TLST-HS ngày 18/01/2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1990; Giới tính: Nam

Nơi ĐKNKTT: Hện T, thành phố Hà Nội.

Nơi cư trú: Lang thang, không có nơi ở cố định

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam

Trình độ học vấn: Không tốt nghiệp trường lớp nào; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Tiến H và bà Nguyễn Thị T

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ ngày 07/11/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội – Có mặt

Người bị hại:

1. Anh Trần Thế H, sinh năm 1979

Địa chỉ: khu đô thị M, phường M, quận N, Hà Nội - Vắng mặt

2. Chị Lê Thị Lan A, sinh năm 1979

Địa chỉ: khu đô thị M, phường M, quận N, Hà Nội - Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo bị VKSND quận N, thành phố Hà Nội truy tố về hành vi phạm tội như sau: Nguyễn Tiến Đ là đối tượng không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, không có nơi ở cố định mà sống lang thang tại Hà Nội. Ngày 13/10/2022, Đ đi lang thang quanh các khu chung cư tại khu vực quận N để quan sát xem có tài sản của cư dân để sơ hở rồi trộm cắp bán lấy tiền chi tiêu. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 13/10/2022, Đ đi lên tầng 10, cầu thang 2, tòa nhà CT4 khu đô thị M, quận N, Hà Nội thì phát hiện thấy chiếc xe đạp nhãn hiệu Gmidi, màu xanh-đen và 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu Gmidi, màu đỏ-đen của chị Lê Thị Lan A để trong hành lang cầu thang, không khóa, không có ai trông giữ nên Đ đã lấy chiếc xe đạp Gmidi màu đỏ-đen dắt đi ra khỏi tòa nhà mang để ở vỉa hè trên đường Phạm Hùng (gần tòa nhà Sông Đà). Sau đó, Đ quay lại tiếp tục lấy chiếc xe đạp màu xanh-đen còn lại mang ra khỏi tòa nhà CT4. Trộm cắp xong, Đ mang cả hai chiếc xe bán cho một người nam giới (không xác định lai lịch, địa chỉ) ở khu vực đường Mễ Trì, Mễ Trì, quận N, Hà Nội với giá là 200.000đ/chiếc, tổng cộng 02 chiếc bán được là 400.000đ, Đ đã chi tiêu cá nhân hết số tiền.

Đến khoảng 13 giờ 15 phút ngày 04/11/2022, Đ đi đến khu vực trước cửa căn nhà số 829, tầng 8, cầu thang 12, tòa nhà CT4 khu đô thị Mỹ Đình - Sông Đà, Mỹ Đình 1, quận N, Hà Nội, Đ phát hiện có 01 chiếc xe đạp mang nhãn hiệu Pro Master, màu đen đỏ của anh Trần Thế H đang dựng ở hàng lang. Đ quan sát xung quanh không có ai nên đã lấy chiếc xe mang ra khu vực đường Mễ Trì bán cho người nam giới mà lần trước Đ đã bán và bán với giá 100.000đ. Đ đã chi tiêu cá nhân hết số tiền.

Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 06/11/2022, Nguyễn Tiến Đ tiếp tục đi lên tầng 9, 10, 11 tòa nhà CT4 khu đô thị Mỹ Đình Sông Đà với mục đích tìm kiếm xe đạp để trộm cắp nhưng không thấy chiếc nào, khi Đ đang đi ra thì bị bảo vệ tòa nhà giữ lại vì nghi ngờ Đ là người đã trộm cắp xe đạp trước đó và bàn giao cho Công an phường Mỹ Đình để làm rõ.

Tiến hành dẫn giải Nguyễn Tiến Đ, kết quả: Cơ quan điều tra đã xác định địa điểm Đ thực hiện hành vi trộm cắp, địa điểm Đ cất giấu chiếc xe đạp sau khi trộm cắp vào ngày 13/10/2022 và địa điểm Đ bán 03 chiếc xe đạp sau khi trộm cắp nhưng do không xác định được người mua xe nên Cơ quan điều tra không thu giữ được vật chứng.

Vật chứng thu giữ: 01 USB chứa hình ảnh Đ lấy trộm 03 chiếc xe đạp tại Tòa CT4, Khu đô thị Mỹ Đình Sông Đà ngày 13/10/2022 và ngày 04/11/2022.

Tại bản kết luận định giá số 384 ngày 22/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận N, kết luận: 01 chiếc xe đạp mang nhãn hiệu Pro Master, Model “Ceros”, màu đen-đỏ, đã qua sử dụng (xe Đ trộm cắp vào ngày 04/11/2022) có trị giá là 5.300.000đ; 02 chiếc xe đạp nhãn hiệu Gmidi, không rõ chủng loại, một chiếc màu xanh đen, một chiếc màu đỏ đen, đã qua sử dụng (xe Đ trộm cắp vào ngày 13/10/2022) có trị giá là 1.600.000đ/01 chiếc, tổng cộng là 3.200.000đ/02 chiếc.

Tại bản cáo trạng số 13/CT-VKSNTL ngày 13/01/2023 của VKSND quận N, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.

Kết thúc phần tranh tụng; Tại phần tranh luận, đại diện VKS đọc bản luận tội đối với bị cáo. Nội dung bản luận tội đã phân tích nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo; Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo và khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 46 BLHS; Đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù. Buộc bị cáo nộp lại 500.000đ tiền do phạm tội mà có sung công quỹ Nhà nước. Về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự đề nghị không xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng số 13 ngày 13/01/2023 của VKSND quận N đã truy tố bị cáo. Bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố và lời luận tội của đại diện VKS đối với bị cáo tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện VKS. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Người bị hại đã được triệu tập hợp nhưng vắng mặt. Trong giai đoạn điều tra những người bị hại đã có lời khai thể hiện: Về trách nhiệm dân sự không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Về hình phạt đề nghị xét xử theo pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Căn cứ vào chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, HĐXX nhận định: Trong khoản thời gian ngắn từ 13/10 đến 04/11/2022, bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại địa bàn phường Mỹ Đình 1, N, Hà Nội, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 13/10/2022, tại hành lang tầng 10, cầu thang 2, tòa nhà CT4 khu đô thị Mỹ Đình Sông Đà, Mỹ Đình 1, N, Hà Nội, Nguyễn Tiến Đ đã trộm cắp 02 chiếc xe đạp nhãn hiệu Gmidi đã qua sử dụng của chị Lê Thị Lan A. Giá trị 02 chiếc xe đạp theo định giá là 3.200.000đ.

Vụ thứ hai: Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 04/11/2022, tại khu vực trước cửa căn nhà số 829 tầng 8, cầu thang 12, tòa nhà CT4 khu đô thị Mỹ Đình - Sông Đà, Mỹ Đình 1, N, Hà Nội, Nguyễn Tiến Đ đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe đạp mang nhãn hiệu Pro Master, Model “Ceros”, màu đen đỏ, đã qua sử dụng của anh Trần Thế H. Giá trị tài sản theo định giá là 5.300.000đ.

Bị cáo khai nhận tội, tài sản không thu hồi được, hậu quả chưa khắc phục, chị Lê Thị Lan A và anh Trần Thế H không có yêu cầu gì về dân sự.

Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

Xét cáo trạng truy tố và lời trình bày luận tội của đại diện VKS tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên được chấp nhận.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an, gây hoang mang lo lắng nơi xảy ra tội phạm.

Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tính đến ngày phạm tội, bị cáo chưa có tiền án tiền sự; nhưng trong thời gian ngắn, bị cáo thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, mỗi lần trộm cắp đều có giá trị trên 2.000.000đ. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú. Do vậy, bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội từ 02 lần trở lên” theo điểm g Điều 52 BLHS. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. HĐXX áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Từ phân tích và nhận định trên, xét cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo đã gây ra. Cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu gì nên HĐXX không xét.

Về xử lý vật chứng: Buộc bị cáo nộp lại số tiền do phạm tội mà có sung công quỹ Nhà nước. Chiếc USB là chứng cứ để chứng minh tội phạm nên tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QuyÕt ®Þnh

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 46 BLHS; Điều 106, 136, 329 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Nguyễn Tiến Đ 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/11/2022.

Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: HĐXX không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Buộc bị cáo nộp lại 500.000đ tiền do phạm tội mà có sung công quỹ Nhà nước.

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí HSST.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống Đ bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ