- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Van T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Vi Văn Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐĂK NÔNG Bản án số: 30/2023/HSST Ngày: 27 - 6 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐĂK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thuận và bà Lê Thị Hòa
-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22A/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2023/HSST - QĐ ngày 31 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 68/2023/HSST - QĐ ngày 21 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vi Văn Th, sinh năm 1990, tại tỉnh Đăk N; nơi cư trú: Thôn Nam T, xã , huyện C, tỉnh Đ; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Hồng S, sinh năm 1963 và bà Lò Thị P, sinh năm 1971; có vợ Hoàng Thị B, sinh năm 1993 và 02 con (lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2016); tiền án: Không; tiền sự: Năm 2020 bị Tòa án nhân dân huyện Cư Jút áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng (Quyết định số 16/2020/QĐ - TA ngày 26/10/2020) chấp hành xong quyết định ngày 30/4/2022; Hiện bị cáo đang tại ngoại – có mặt.
Bị hại: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1999; Địa chỉ: Thôn Nam T, xã E, huyện C, tỉnh Đ - có mặt.
Người làm chứng: Anh Trần Văn P, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn Thanh S, xã E, huyện C, tỉnh Đ - có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 23/01/2023, Vi Văn Th và chị Hoàng Thị B (là vợ của Th) xảy ra mâu thuẫn nên chị B dẫn 02 (hai) người con gái đi ra khỏi nhà. Đến khoảng 19 giờ 40 phút ngày 23/01/2023, Th mang theo 01 (một) con dao dài 48,5cm (trong đó phần lưỡi dao làm bằng kim loại dài 35cm, bản dao rộng nhất 6,5cm, cán dao dài 13,5cm làm bằng gỗ hình trụ tròn đường kính 3,5cm) với mục đích tìm chị B và các con về nhà. Khi Th đi ngang nhà anh Nguyễn Văn T (sinh năm 1999, cư trú: Thôn Nam T, xã E, huyện C, tỉnh Đ – là hàng xóm của Th), thấy anh T nhìn về phía mình nên Th nghĩ anh T nhìn đểu, Th cầm dao bằng tay phải đi lại chỗ anh T đang đứng, cầm dao quàng qua cổ của anh T và nói “Mày muốn gì”. Lúc này, anh Trần Văn P (sinh năm: 1996, cư trú: Thôn Thanh S, xã E, huyện C, tỉnh Đ – là bạn của T) chạy đến can ngăn, dùng 02 (hai) tay kéo tay phải của Th ra khỏi phía trước cổ của anh T và giằng co nhưng không lấy được dao từ tay của Th nên P bỏ chạy. Th cầm dao đuổi theo anh P nhưng do bị vấp ngã nên không đuổi kịp. Th quay lại thì anh T cầm bao đá dùng để uống nước ném về phía Th và bỏ chạy, Th cầm dao bằng tay phải chém theo hướng từ trên xuống dưới về phía lưng của anh T nhưng không trúng. Tâm dùng bàn ghế bằng kim loại ở gần đó chống đỡ và ném về phía Thao thì Th tiếp tục cầm dao bằng tay phải chém theo hướng từ trên xuống dưới trúng vào phần tay phải của anh T, gây thương tích. Được can ngăn nên Th bỏ về nhà của mình, anh T được đưa đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện đa khoa Vùng Tây Nguyên.
Vật chứng:
- 01 (một) con dao dài 48,5 cm, trong đó phần lưỡi dao làm bằng kim loại dài 35cm, đầu dao vuông góc với sống dao, có một lưỡi sắc, bản dao rộng nhất 6,5cm, cán dao dài 13,5cm làm bằng gỗ hình trụ tròn đường kính 3,5cm, cán dao được chốt cố định bằng hai vòng kim loại. Là hung khí Th dùng gây thương tích cho anh Tâm.
- 01 (một) USB có chứa 01 đoạn video clip dài 04 phút 02 giây do ông Hoàng Văn T (sinh năm 1974, cư trú: Thôn Phú S, xã E) giao nộp, là đoạn video ghi lại sự việc xảy ra tại số nhà 292 thôn Nam T, xã E, vào hồi 19 giờ 40 phút ngày 23/01/2023.
Tại kết luận giám định pháp y về thương tích số 273/TgT - TTP ngày 22/02/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Nguyễn Văn T, bị vết thương mở rộng để lại sẹo nằm chéo mặt mu khớp bàn ngón II tay phải, bờ đều, kích thước (6,5 x 0,1)cm, tỷ lệ: 02%; Gẫy nền xương đốt gần ngón II đã mổ kết hợp xương, tỷ lệ: 02%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích sau khi tổng hợp tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do từng thương tích, là: 04%. Vật tác động: Vật sắc. Cơ chế hình thành thương tích có chiều hướng từ trên xuống dưới, từ trước ra sau, từ trái qua phải.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định pháp y của Trung tâm pháp y, Sở y tế tỉnh Đăk Lăk.
Bản cáo trạng số 25/CTr-VKS ngày 26 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút truy tố bị cáo Vi Văn Th về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Vi Văn Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Về trách nhiệm hình sự:
+ Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Vi Văn Th từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù. Thôøi haïn tuø tính töø ngaøy baét ñi thi haønh aùn.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46, 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) con dao dài 48,5cm, trong đó phần lưỡi dao làm bằng kim loại dài 35cm, đầu dao vuông góc với sống dao, có một lưỡi sắc, bản dao rộng nhất 6,5cm, cán dao dài 13,5cm làm bằng gỗ hình trụ tròn đường kính 3,5cm, cán dao được chốt cố định bằng hai vòng kim loại. Phần lưỡi dao được niêm phong bằng giấy trắng có ký giáp lai và đóng dấu tròn đỏ của Công an xã Ea Pô.
- Lưu cùng hồ sơ vụ án: 01 (một) USB có chứa 01 đoạn video clip dài 04 phút 02 giây do ông Hoàng Văn T (sinh năm 1974, cư trú: Thôn Phú S, xã E) giao nộp, là đoạn video ghi lại sự việc xảy ra tại số nhà 292 thôn Nam T, xã E, vào hồi 19 giờ 40 phút ngày 23/01/2023.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Các Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Bị hại yêu cầu bị cáo đền bù số tiền 26.579.192 (Hai mươi sáu triệu năm trăm bảy mươi chín nghìn một trăm chín mươi hai) đồng. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 26.579.192 đồng nên đề nghị HĐXX ghi nhận.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì. Bị cáo không bào chữa và cũng không tranh luận gì thêm mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cư Jút, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với hành vi của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy:
Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 23/01/2023, tại số nhà 292 thôn Nam Thanh, xã Ea Pô, huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông, bị cáo Vi Văn Th chỉ vì nghĩ anh Nguyễn Văn T (là hàng xóm của bị cáo) nhìn đểu bị cáo mà bị cáo dùng dao bằng kim loại chém vào tay phải của anh Nguyễn Văn T, gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 04% (Bốn phần trăm).
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập được lưu trong hồ sơ vụ án. Các chứng cứ buộc tội và ý kiến đề nghị của đại diện VKS đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật nên cần được chấp nhận.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe của công dân và gây mất trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, lẽ ra bị cáo phải thấy được rằng quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Bất kỳ một hành vi xâm phạm trái pháp luật nào cũng đều bị xử lý nghiêm minh theo quy định của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội gây thương tích, làm ảnh hưởng đến tinh thần và sức khỏe của người bị hại. Hành vi của bị cáo thể hiện ý thức coi thường pháp luật, coi thường sức khỏe của người khác
Như vậy đã có đủ căn cứ pháp lý để kết luận bị cáo Vi Văn Th phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng hung khí nguy hiểm;
…………………………………
i) Có tính chất côn đồ;
…………………………………”
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tuy nhiên, năm 2020 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Cư Jút áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng. (Quyết định số 16/2020/QĐ - TA ngày 26/10/2020), bị cáo đã chấp hành xong quyết định ngày 30/4/2022 nhưng đây là tình tiết lưu ý xem xét khi lượng hình.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) con dao dài 48,5cm, trong đó phần lưỡi dao làm bằng kim loại dài 35cm, đầu dao vuông góc với sống dao, có một lưỡi sắc, bản dao rộng nhất 6,5cm, cán dao dài 13,5cm làm bằng gỗ hình trụ tròn đường kính 3,5cm, cán dao được chốt cố định bằng hai vòng kim loại. Phần lưỡi dao được niêm phong bằng giấy trắng có ký giáp lai và đóng dấu tròn đỏ của Công an xã Ea Pô là công cụ bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội do đó tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Đối với 01 (một) USB có chứa 01 đoạn video clip dài 04 phút 02 giây do ông Hoàng Văn T (sinh năm 1974, cư trú: Thôn Phú S, xã E) giao nộp, là đoạn video ghi lại sự việc xảy ra tại số nhà 292 thôn Nam Th, xã E, vào hồi 19 giờ 40 phút ngày 23/01/2023. Đây là vật chứng của vụ án nên cần lưu hồ sơ.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại anh Nguyễn Văn T yêu cầu bị cáo đền bù số tiền 26.579.192 đồng, tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường số tiền trên, xét đây là sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bị cáo và người bị hại không trái pháp luật, đạo đức xã hội nên ghi nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét những chứng cứ buộc tội bị cáo, đề nghị khung hình phạt do Kiểm sát viên tại phiên tòa đưa ra là phù hợp so với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên HĐXX cần xem xét khi quyết định mức hình phạt.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Tuyên bố bị cáo Vi Văn Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
[2] Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Vi Văn Th 09 (Chín) tháng tù. Thôøi haïn tuø tính töø ngaøy baét ñi thi haønh aùn.
[3] Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Lưu hồ sơ vụ án: 01 (một) USB có chứa 01 đoạn video clip dài 04 phút 02 giây do ông Hoàng Văn T (sinh năm 1974, cư trú: Thôn Phú S, xã E) giao nộp, là đoạn video ghi lại sự việc xảy ra tại số nhà 292 thôn Nam T, xã E, vào hồi 19 giờ 40 phút ngày 23/01/2023.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao dài 48,5cm, trong đó phần lưỡi dao làm bằng kim loại dài 35cm, đầu dao vuông góc với sống dao, có một lưỡi sắc, bản dao rộng nhất 6,5cm, cán dao dài 13,5cm làm bằng gỗ hình trụ tròn đường kính 3,5cm, cán dao được chốt cố định bằng hai vòng kim loại. Phần lưỡi dao được niêm phong bằng giấy trắng có ký giáp lai và đóng dấu tròn đỏ của Công an xã Ea Pô.
(Đặc điểm vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Công an huyện Cư Jút với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư Jút ngày 28/4/2023).
[4] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Vi Văn Th đồng ý bồi thường cho anh Nguyễn Văn T số tiền 26.579.192 (Hai mươi sáu triệu năm trăm bảy mươi chín nghìn một trăm chín mươi hai) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
[5] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Vi Văn Th phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.328.959 (Một triệu ba trăm hai mươi tám nghìn chín trăm năm mươi chín) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Quyền kháng cáo: Bị cáo Vi Văn Th và bị hại anh Nguyễn Văn T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận : - TAND Tỉnh Đăk Nông; - VKSND tỉnh Đăk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đăk Nông; - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Cư Jút; - CCTHADS huyện Cư Jút; - Bị cáo,bị hại; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |