- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Đình Th phạm tội trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Đình Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BUÔN ĐÔN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2023/HSST Ngày 20 tháng 9 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BUÔN ĐÔN, TỈNH ĐĂK LĂK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vinh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Lam Điền, ông Y Đưng Knul.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Lương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2023, Tại trụ sở Toà án nhân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2023/HSST ngày 28 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo: Võ Đình Th (tên gọi khác: T), sinh năm 1981, tại tỉnh Đắk Lắk
Nơi cư trú: Thôn 05, xã C, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.
Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 0/12 (không biết chữ)
Con ông: Võ Đình C (đã chết) và bà Phạm Thị T, sinh năm 1951
Tiền sự: Không. Tiền án: 02 tiền án.
Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 232/2016/HSPT ngày 30/6/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 03 năm tù, về tội: Cố ý gây thương tích; đến ngày 19/5/2018 chấp hành xong hình phạt nêu trên tại Trại giam Đắk Trung (chưa chấp hành việc bồi thường dân sự với số tiền là 23.400.000 đồng);
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2020/HSST ngày 04/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn xử phạt 01 năm tù, về tội: Trộm cắp tài sản; đến ngày 25/01/2022 chấp hành xong hình phạt nêu trên tại Trại giam Đắk Tân, trở về địa phương sinh sống.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/5/2023 đến nay, hiện đang bị Tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Buôn Đôn (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Th: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1951 là mẹ của bị cáo.
Trú tại: Thôn 05, xã C, huyện B, tỉnh Đắk Lắk (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị hại: Anh Hồ Chí Kh, sinh năm 1982
Trú tại: Thôn 09, xã T, huyện B, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Võ Đình Th: Ông Phùng Văn H – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đắk Lắk (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 16/3/2023 Võ Đình Th đứng chờ xe buýt tại khu vực cuối đường Phan Bội Ch, thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk thì phát hiện có hai người thanh niên (chưa xác định được nhân thân, lý lịch) điều khiển xe gắn máy biển kiểm soát 47AB-587.70, nhãn hiệu YAMAHA FL, màu đen-trắng-xanh đi vào khu vực vườn cây của khu nghĩa trang cũ và dựng xe gắn máy ở mép đường, bên cạnh vườn cây. Th quan sát khoảng 30 phút, không thấy hai người thanh niên quay trở ra nên nảy sinh ý định trộm cắp xe gắn máy làm phương tiện đi lại. Th đi bộ lại gần, thấy xe gắn máy không có chìa khóa nhưng vẫn khởi động được xe nên Th lấy trộm xe gắn máy và điều khiển xe đi về hướng huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Khi Th điều khiển xe gắn máy đến khu vực lán trại của công nhân thi công cầu Suối cạn trên đường Tỉnh lộ 1 thuộc địa phận thôn 09, xã T, huyện B thì xe gắn máy gặp sự cố, không thể tiếp tục di chuyển. Th dựng xe gắn máy ở lề đường, phía bên phải đường Tỉnh lộ 1 theo hướng từ thành phố B đi huyện B và phát hiện phía trước khu vực lán trại của công nhân đang thi công cầu đường có 01 xe mô tô biển kiểm soát 36L9-8938, loại xe HONDA, nhãn hiệu Wave Alpha, màu đỏ-đen (xe của ông Hồ Chí Kh, sinh năm 1982, là công nhân thi công cầu đường) không có người trông coi, quản lý nên Th nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô này để làm phương tiện đi lại. Th đi bộ lại gần phát hiện xe có cắm sẵn chìa khóa ở ổ khóa xe nên Th khởi động và điều khiển xe mô tô tiếp tục đi về hướng trung tâm huyện B, sau đó đi về nhà ở thôn 05, xã C, huyện B.
Sau khi phát hiện mất xe HONDA thì anh Hồ Chí Kh đã trình báo với cơ quan Công an xã Tân Tòa, huyện B, tỉnh Đắk Lắk để tiến hành xác minh vụ việc.
Về việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành thu giữ: 01 xe mô tô, biển kiểm soát 36L9-8938, loại xe HONDA, nhãn hiệu Wave Alpha, màu sơn đỏ-đen, đã qua sử dụng; 01 xe gắn máy nhãn hiệu FL YAMAHA, màu đen–trắng–xanh, biển kiểm soát 47AB-587.70, đã qua sử dụng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành điều tra, xác định xe gắn máy biển kiểm soát 47AB-587.70, nhãn hiệu YAMAHA FL, màu đen-trắng-xanh là tài sản của chị Phan Thị Hoài Nhi, sinh năm 2002, trú tại thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng xe đã bị thất lạc vào ngày 12/12/2021 tại khu vực đường liên thôn thuộc xã E, huyện K nhưng chị N không trình báo với Cơ quan công an huyện K để điều tra, xác minh vụ việc. Ngoài ra, từ ngày 16/3/2023 đến ngày 31/7/2023, Công an thành phố B không tiếp nhận nguồn tin về tội phạm nào liên quan đến việc mất trộm xe biển kiểm soát 47AB-587.70 nêu trên.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 28/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, kết luận: Giá trị của 01 xe mô tô, biển kiểm soát 36L9-8938, loại xe HONDA, nhãn hiệu Wave Alpha, màu sơn đỏ-đen, đã qua sử dụng, tại thời điểm tháng 3/2023 là 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng); giá trị 01 xe gắn máy nhãn hiệu FL YAMAHA, màu đen – trắng – xanh, biển kiểm soát 47AB-587.70 đã qua sử dụng, tại thời điểm tháng 3/2023 là 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).
Kết luận giám định pháp y số 170/KLGĐ ngày 10/8/2023 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực Tây Nguyên, kết luận: Về y học: Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định Võ Đình Th bị bệnh Động kinh cơn lớn có rối loạn nhân cách + sử dụng rượu gây hại (theo phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10 (ICD10), bệnh có mã G40.6 + F10.1)); về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định Th hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự:
Ngày 17/5/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã có Quyết định xử lý vật chứng và trả lại xe mô tô biển kiểm soát 36L9-8938, loại xe HONDA, nhãn hiệu Wave Alpha, màu sơn đỏ-đen cho anh Hồ Chí Kh là chủ sở hữu, nhận quản lý sử dụng là phù hợp.
Đối với 01 xe gắn máy nhãn hiệu FL YAMAHA, màu đen – trắng – xanh, biển kiểm soát 47AB-587.70 đã qua sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã chuyển xe gắn máy nêu trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K để tiếp tục thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.
Cáo trạng số: 33/CT-VKS ngày 25/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn, truy tố bị cáo Võ Đình Thuận về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Võ Đình Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn đã nêu và không có ý kiến gì thêm.
Anh Hồ Chí Kh không yêu cầu bị cáo bồi thường gì và đã có đơn đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn trình bày quan điểm luận tội đối với bị cáo: Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, chứng cứ buộc tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, căn cứ vào nhân thân của bị cáo. Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Đình Th phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Võ Đình Th từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 23/5/2023.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Đề nghị chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện B ra Quyết định xử lý vật chứng số 223/QĐ-ĐTTH ngày 17/5/2023 trả: 01 xe mô tô biển kiểm soát 36L9-8938, loại xe HONDA, nhãn hiệu Wave Alpha, màu sơn đỏ-đen cho anh Hồ Chí Kh là chủ sở hữu, nhận quản lý sử dụng là phù hợp.
Đối với 01 xe gắn máy nhãn hiệu FL YAMAHA, màu đen – trắng – xanh, biển kiểm soát 47AB-587.70 đã qua sử dụng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B đã chuyển xe gắn máy nêu trên đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K để tiếp tục thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sư: Bị hại anh Hồ Chí Kh không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập giải quyết.
Tại phiên toà người bào chữa cho bị cáo: Ông Phùng Văn H – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đắk Lắk có ý kiến tranh luận: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, gây thiệt hại không lớn, bị cáo có nhược điểm về thể chất, hạn chế nhận thức, không biết chữ nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế; bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt, bị cáo thuộc hộ cận nghèo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Kiểm sát viên có ý kiến đối đáp tranh luận lại đối với người bào chữa: Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà người bào chữa cho bị cáo đã nêu, phù hợp với đề nghị của Kiểm sát viên nên không có ý kiến gì thêm. Đối với việc đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử dưới khung hình phạt là do Hội đồng xét xử quyết định khi nghị án.
Bị cáo không có ý kiến đối đáp, tranh luận gì thêm đối với Quyết định truy tố của Viện kiểm sát và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tính hợp pháp của hành vi, quyết định: Quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Đắk Lắk, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Võ Đình Th; bị hại anh Hồ Chí Kh không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và những chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Thể hiện khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 16/3/2023 Võ Đình Th có hành vi trộm cắp xe gắn máy biển kiểm soát 47AB-587.70, nhãn hiệu YAMAHA FL, màu đen-trắng-xanh tại khu vực vườn cây của nghĩa trang cũ thuộc phường T, thành phố B, điều khiển xe đi về hướng huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Khi đến khu vực lán trại của công nhân thi công cầu Suối cạn trên đường Tỉnh lộ 1 thuộc địa phận thôn 09, xã T, huyện B thì xe gắn máy gặp sự cố, nên Th dựng xe ở lề đường và phát hiện phía trước khu vực lán trại của công nhân đang thi công cầu đường có 01 xe mô tô biển kiểm soát 36L9-8938, loại xe HONDA, nhãn hiệu Wave Alpha, màu đỏ-đen (xe của ông Hồ Chí Kh, sinh năm 1982, là công nhân thi công cầu đường) không có người trông coi, Th đã trộm cắp và điều khiển xe mô tô tiếp tục đi về hướng trung tâm huyện B, sau đó đi về nhà ở thôn 05, xã C, huyện B.
Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 28/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, kết luận: Giá trị của 01 xe mô tô, biển kiểm soát 36L9-8938, loại xe HONDA, nhãn hiệu Wave Alpha, màu sơn đỏ-đen, đã qua sử dụng, tại thời điểm tháng 3/2023 là 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng).
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác và gây mất trật tự trị an trong khu vực. Bị cáo là người hạn chế năng lực hành vi, nhưng phải biết được rằng tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, ai xâm phạm bất hợp pháp sẽ bị pháp luật nghiêm trị, nhưng xuất phát từ động cơ tham lam, ý thức coi thường pháp luật, lười biến lao động, muốn có phương tiện đi lại nên bị cáo đã cố ý lén lút thực hiện hành vi phạm tội.
Tại bản án hình sự phúc thẩm số 232/2016/HSPT ngày 30/6/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt Võ Đình Th 03 năm tù, về tội: Cố ý gây thương tích; sau khi chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án tích thì đến ngày 04/12/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn xử phạt 01 năm tù, về tội: Trộm cắp tài sản; bị cáo đã chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xóa án tích thì tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.
Xét quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Võ Đình Th phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
g) Tái phạm nguy hiểm.”
Xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, có 02 tiền án nên bị cáo phải lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân, nhưng bị cáo vẫn không thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án đủ nghiêm, cách lý bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm để giáo dục, cải tạo, răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo; phạm tội gây thiệt hại không lớn; người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình; bị cáo thuộc hộ cận nghèo, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; quy định tại điểm h, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật hình sự.
Về áp dụng hình phạt: Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn về việc áp dụng hình phạt là tương xứng với hành vi, nhân thân của bị cáo nên cần chấp nhận.
Xét thấy người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo là không tương xứng với hành vi, nhân thân của bị cáo nên không chấp nhận.
Xét thấy Võ Đình Th có hành vi trộm cắp 01 xe gắn máy nhãn hiệu FL YAMAHA, màu đen – trắng – xanh, biển kiểm soát 47AB-587.70 đã qua sử dụng của hai người thanh niên tại khu vực vườn cây của nghĩa trang cũ thuộc phường T, thành phố B, nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch của hai người này. Nhưng chủ sở hữu đăng ký chiếc xe này là chị Phan Thị Hoài N, sinh năm 2002, trú tại thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, quá trình sử dụng đã bị thất lạc vào ngày 12/12/2021 tại khu vực đường liên thôn thuộc xã E, huyện K. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã có Thông báo và chuyển 01 xe gắn máy nhãn hiệu FL YAMAHA, màu đen – trắng – xanh, biển kiểm soát 47AB-587.70 đã qua sử dụng, đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K để tiếp tục thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền là phù hợp.
Về xử lý vật chứng: Xét thấy việc xử lý vật chứng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, nên cần chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Xét thấy trong quá trình điều tra đã thu hồi toàn bộ tài sản trộm cắp và trả lại cho bị hại anh Hồ Chí Kh, anh Kh không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không đề cập.
Về án phí: Xét thấy bị cáo thuộc hộ cận nghèo, được Ủy ban nhân dân xã C xác nhận và có đơn đề nghị miễn án phí nên miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Võ Đình Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1.1. Áp dụng điển g khoản 2 Điều 173; điểm h, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Võ Đình Th 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 23/5/2023.
2. Các biện pháp tư pháp:
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B ra quyết định xử lý vật chứng số 223/QĐ-ĐTTH ngày 17/5/2023 trả: 01 xe mô tô biển kiểm soát 36L9-8938, loại xe HONDA, nhãn hiệu Wave Alpha, màu sơn đỏ-đen cho anh Hồ Chí Kh là chủ sở hữu.
Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã chuyển 01 xe gắn máy nhãn hiệu FL YAMAHA, màu đen – trắng – xanh, biển kiểm soát 47AB-587.70 đã qua sử dụng, đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K để tiếp tục thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền là phù hợp cần chấp nhận.
- Về trách nhiệm dân sự: Anh Hồ Chí Kh không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm nên không đề cập.
- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Võ Đình Th được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk lắk; - VKS huyện Buôn Đôn; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - Công an huyện Buôn Đôn; - Chi cục THADS huyện B; - Phòng Giám đốc kiểm tra I, TAND.CC Đà Nẵng; - Cơ quan Thi hành án hình sự; - Bị cáo; bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Vinh Tuấn |