- Tranh chấp gì? án hình sự — "cố ý gây thuong tích - phạm tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 138 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo P V O phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự Đình chỉ một phần; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 30/2023/HSST Ngày 01 tháng 6 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Phong Phi
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hồng
Ông Phan Phước Tân
Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Văn Vũ – Thư ký Toà án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Nguyễn Thiết Bảnh- Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Hậu huyện An Phú, tỉnh An Giang, Tòa án nhân dân huyện An Phú đưa ra xét xử lưu động sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 24/2023/HSST ngày 28/04/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
P V O, sinh năm: 1993; nơi sinh: tỉnh An Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp Vĩnh Lịnh, xã Vĩnh Hậu, huyện An Phú, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Cao Đài; Trình độ văn hóa: không biết chữ; Nghề nghiệp: Làm thuê; Cha: Phạm Văn Oai (đã chết); Mẹ: Trần Thị Bình (đã chết). Anh, em ruột có 03 người, bị cáo là người thứ hai; có vợ là Bùi Thị Bích Vân, sinh năm 1996 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2019.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/5/2022 cho đến nay tại Nhà tạm giữ
- Công an huyện An Phú.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia phiên tòa:
- Bị cáo: P V O, sinh năm: 1993; nơi sinh: tỉnh An Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp Vĩnh Lịnh, xã Vĩnh Hậu, huyện An Phú, tỉnh An Giang; (có mặt)
Bị hại:
1. Ông Nguyễn Văn Ngẫu, sinh năm: 1970; Địa chỉ: Ấp Vĩnh Lịnh, xã Vĩnh Hậu, huyện An Phú, tỉnh An Giang. (có mặt)
2. Ông Nguyễn Thanh Phùng, sinh năm: 1972; Địa chỉ: Ấp Vĩnh Lịnh, xã Vĩnh Hậu, huyện An Phú, tỉnh An Giang. (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Trần Minh Vương (Lẹ), sinh năm: 1985; Địa chỉ: Ấp Vĩnh Lịnh, xã Vĩnh Hậu, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
2. Ông Nguyễn Văn Bảo Chung, sinh năm: 1994; Địa chỉ: Ấp Tân Hòa C, xã Tân An, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
3. Ông Trần Văn Thiệt, sinh năm: 1993; (có mặt)
4. Bà Lê Thị Nê, sinh năm: 1941; (có mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp Vĩnh Lịnh, xã Vĩnh Hậu, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Người làm chứng:
1. Ông Phạm Mực Em (Mực), sinh năm: 1991; (có mặt)
2. Bà Nguyễn Thị Thuận, sinh năm: 1974; (vắng mặt)
3. Bà Phan Thị Đen (Ba Ri), sinh năm: 1966; (có mặt)
4. Ông Nguyễn Hòa Minh (Bình), sinh năm: 1979; (vắng mặt)
5. Ông Trần Hoàng Lâm, sinh năm: 1989; (vắng mặt)
6. Ông Phan Văn Dương (Dinh), sinh năm: 1974; (vắng mặt)
7. Ông Trần Văn Cu, sinh năm: 1983; (có mặt)
8. Ông Phan Văn Phú, sinh năm: 1991; (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp Vĩnh Lịnh, xã Vĩnh Hậu, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 03/02/2022, Trần Hoàng Lâm, Nguyễn Hòa Minh (Bình), ông Nguyễn Văn Ngẫu, ông Nguyễn Thanh Phùng (anh ruột của Minh) cùng những người khác đang uống rượu bia và ca hát tại khu vực quán nước của bà Phan Thị Đen (thuộc ấp Vĩnh Lịnh, xã Vĩnh Hậu, huyện An Phú) thì Trần Minh Vương (Lẹ), P V O và các đối tượng khác đi đến tìm Lâm và Minh để giải quyết tranh chấp đánh nhau trước đó. Đến nơi, Vương cầm 01 nhánh dừa khô xông vào đánh vào lưng Lâm và Minh nên ông Phùng can ngăn thì Vương dùng tay đánh ông Phùng.
Lúc này Ô cầm cây dũ khúc định xông vào đánh nhau nên bà Nguyễn Thị Thuận (vợ ông Ngẫu) và ông Ngẫu can ngăn, đẩy Ô lùi ra xa khu vực đánh nhau. Sợ ông Ngẫu đi đến đánh Vương nên Ô cầm cây dũ khúc đánh 01 cái từ trên xuống ông Ngẫu lấy tay đỡ được, Ô tiếp tục đánh 01 cái trúng vào vùng đầu ông Ngẫu gây thương tích rồi chạy về hướng Vương và Phùng đang đánh nhau.
Khi thấy ông Phùng vừa té ngã định đứng lên thì Ô cầm cây dũ khúc đứng chếch về phía bên phải của ông Phùng đánh 01 cái vào vùng đầu ông Phùng gây thương tích rồi bỏ chạy về nhà. Trên đường chạy về nhà Ô ném bỏ cây dũ khúc.
Căn cứ kết luận giám định pháp y về thương tích số 125/22/TgT ngày 12/3/2022 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế An Giang, xác định:
Nguyễn Văn Ngẫu, sinh năm: 1970. Địa chỉ: Ấp Vĩnh Lịnh, xã Vĩnh Hậu, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
1. Dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo đính lệch trái, kích thước (04 x 0.3) cm, bờ không phẳng, hơi lõm
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 02% (hai phần trăm).
3. Kết luận khác: thương tích do vật tày gây nên.
Căn cứ kết luận giám định pháp y về thương tích số 126/22/TgT ngày 12/3/2022 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế An Giang, xác định:
Nguyễn Thanh Phùng, sinh năm: 1972. Địa chỉ: Ấp Vĩnh Lịnh, xã Vĩnh Hậu, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
Sẹo trán phải, kích thước (04 x 0.2) cm, bờ không phẳng.
- Gãy lún sọ vùng trán phải: Điều trị bảo tồn.
- Tụ máu và khí dưới màng cứng vùng trán – thái dương – đính phải, xuất huyết dưới nhện bán cầu não phải
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 13% (Mười ba phần trăm).
3. Kết luận khác: Thương tích do vật tày gây nên.
Vật chứng vụ án:
- 01 (một) khúc gỗ tre, hình tròn, chiều dài 1,1m, đường kính 4,5cm.
- 01 (một) đoạn nhánh dừa khô, chiều dài 98cm.
Ngày 23/5/2022, P V O bị khởi tố điều tra.
Tại Bản Cáo trạng số 26/CT-VKSAP-HS ngày 27/4/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú đã truy tố P V O về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi như nội dung cáo trạng đã nêu. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày phù hợp nội dung vụ án.
Người bị hại ông Nguyễn Văn Ngẫu tại phiên tòa có yêu cầu rút lại yêu cầu khỏi tố vụ án đối với bị cáo P V O và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa phát biểu lời luận tội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo mức án từ 2 năm đến 3 năm tù giam về tội “Cố ý gây thương thương tích”.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51 Bộ luật tố tụng hình sự, đình chỉ yêu cầu khởi tố vụ án của ông Nguyễn Văn Ngẫu đối với bị cáo.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu khác nên đề nghị không đề cập xem xét giải quyết.
Về vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng các Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) khúc gỗ tre, hình tròn, chiều dài 1,1m, đường kính 4,5cm; 01 (một) đoạn nhánh dừa khô, chiều dài 98cm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng bị cáo xin hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về thủ tục:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Phú, tỉnh An Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa, những người vắng mặt không rõ lý do. Tuy nhiên, những người này đã có lời khai thể hiện rõ trong hồ sơ vụ án. Xét, những người tham gia tố tụng vắng mặt đều đã có lời khai tại Cơ quan Điều tra được thể hiện trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử; căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Xét về tính chất vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi gây thương tích cho bị hại Ngẫu 02%, Phùng 13% là xâm phạm quyền bất khả xâm phạm sức khỏe của người khác nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện thông qua cách thức bị cáo thực hiện hành vi. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung cấu thành tăng nặng gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ thương tật 11% đến 30%, “dùng hung khí nguy hiểm” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác. Bên cạnh đó, lời khai của bị cáo còn phù hợp với kết luận giám định pháp y về thương tích; biên bản khám nghiệm hiện trường; bản ảnh hiện trường; lời khai bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng những tài liệu, chứng cứ khác đã được Cơ quan điều tra thu thập và được kiểm chứng tại phiên tòa.
Bên cạnh đó, lời khai của bị cáo còn phù hợp với các lời khai của bị hại, người làm chứng, kết quả mô tả vật chứng, kết quả thực nghiệm điều tra các vật chứng bị thu giữ là 01 (một) khúc gỗ tre, hình tròn, chiều dài 1,1m, đường kính 4,5cm; 01 (một) đoạn nhánh dừa khô, chiều dài 98cm.
Từ những lời khai và chứng cứ nêu trên đủ cơ sở xác định thương tích của các bị hại là do bị cáo Ô gây ra. Bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, thỏa mãn dấu hiệu về mặt khách quan của tội: “Cố ý gây thương tích”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Từ những phân tích trên cho thấy Cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét về nhân thân:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã bồi thường cho các bị hại; thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; chưa có tiền án tiền sự; do không biết chữ nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; thuộc thành phần dân nhân lao động; người bị hại Nguyễn Văn Ngẫu đã rút lại yêu cầu khởi tố vụ án đối với bị cáo, nên đình chỉ một phần vụ án, các bị hại đều đồng ý xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên áp dụng tình tiết theo điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: bị cáo và người thân đã tự nguyện khắc phục số tiền 3.500.000 đồng cho bị hại Phùng và 4.500.000 đồng cho bị hại Ngẫu. Bị hại không có yêu cầu khác nên không đề cập xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu, tiêu hủy 01 (một) khúc gỗ tre, hình tròn, chiều dài 1,1m, đường kính 4,5cm; 01 (một) đoạn nhánh dừa khô, chiều dài 98cm. Các vật chứng không còn giá trị sử dụng.
Về hình phạt bổ sung: Lẽ ra, bị cáo còn có thể bị phạt tiền nhưng xét bị cáo hiện đang có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm của người liên quan: Nguyễn Văn Bảo Chung đã bỏ địa phương đi đâu không rõ, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện An Phú chưa điều tra làm rõ được, sẽ tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
Về quyền kháng cáo và án phí:
Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo P V O phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt: Bị cáo P V O 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 26/5/2022.
Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự
Đình chỉ một phần vụ án hình sự đối với yêu cầu khởi tố vụ án của ông Nguyễn Văn Ngẫu đối với bị cáo P V O.
Căn cứ vào các Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) khúc gỗ tre, hình tròn, chiều dài 1,1m, đường kính 4,5cm; 01 (một) đoạn nhánh dừa khô, chiều dài 98cm.
(Hiện trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/4/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Phú và Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú).
Căn cứ Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Về án phí: Bị cáo P V O phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (01/6/2023), bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của người vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh An Giang (01); - VKSND huyện An Phú (02); - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang (01); - Sở Tư pháp tỉnh An Giang (01); - Nhà Tạm giữ (01); - Thi hành án DS huyện (01); - Bộ phận THAHS Tòa án (01); - UBND cấp xã nơi BC cư trú (01); - Người bị hại, liên quan (nếu có); - Lưu hồ sơ vụ án (01); - Lưu văn phòng (01). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phong Phi |