vanban.org

Bản án 30/2023/HSPT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 14/03/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/03/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của b hại bà Đặng Th H1 và sửa bản án s thẩm.

Về án phí: bà Đặng Th H1 không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết đ nh khác của bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng ngh đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh . Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành C - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của b hại bà Đặng Th H1 và sửa bản án s thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2023/HSPT
Ngày: 14/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Kim Liên

Các Thẩm phán: ông Nguyễn Văn Tiến và ông Đinh Phước Hoà

- Thư ký phiên tòa: bà Bùi Thị Hồng Phượng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Chiến, Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế. Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa trực tuyến xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 45/2023/TLPT-HS ngày 18 tháng 01 năm 2023 đối với b cáo Nguyễn Thành C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do có kháng cáo của b hại đối với Bản án hình sự s thẩm số 96/2022/HSST ngày 20/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.

* Bị cáo bị kháng cáo:

Nguyễn Thành C - sinh ngày 22/12/1989 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; n i đăng kí hộ khẩu thường trú: tổ 5, phường T, th xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; n i cư trú: số 13/45 đường N, phường T, th xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: tự do; quốc t ch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Thành Tr và bà Nguyễn Th Thu Th; có vợ nhưng đã ly hôn; có 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không.

B bắt, tạm giam ngày 18/10/2021. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: bà Đặng Th H1, sinh năm 1977. Đ a chỉ: số 225 đường H2, phường Đ1, thành phố H3, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có đ n xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thành C tham gia đầu tư dầu thô và vàng trên sàn FXPRO b thua lỗ nên C nảy sinh ý đ nh chiếm đoạt tiền của bà Đặng Th H1 để trả nợ và tiếp tục đầu tư mua dầu tại sàn FXPRO. C điện gặp bà H1 và nói dối là vay tiền để làm hồ s mua đất cho khách hàng; 07 ngày sau C làm xong hồ s vay thế chấp thửa đất cho khách hàng rồi giải ngân trả lại tiền vay và lãi. Vì biết C là cán bộ tín dụng của Ngân hàng HDBank chi nhánh Huế nên bà H1 tin lời C là thật, đồng ý cho vay và viết giấy vay tiền.

Từ ngày 23/9/2020 đến ngày 29/9/2020, C đã ba lần vay tiền của bà H1 tổng cộng: 5.100.000.000đồng. C không dùng số tiền này để nộp tiền đất cho khách hàng như đã nói với bà H1 mà đem trả nợ và đầu tư mua dầu tại sàn FXPRO, thua lỗ hết. C hứa hẹn bà H1 nhiều lần nhưng không trả nợ. Ngày 02/12/2021, C nhờ cha mẹ mình đến trả trước cho bà H1 1.000.000.000đồng và cam kết thời gian ngắn trả 4.100.000.000đồng. Sau đó, C bỏ trốn. Ngày 05/10/2021, C đến trình diện tại C quan Cảnh sát điều tra và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Kết quả giám đ nh số 433/GĐ ngày 08/9/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận:

Chữ viết có nội dung ”Nguyễn Thành C” trên tài liệu cần giám đ nh ký hiệu A1 đến A4 so với chữ viết đứng tên Nguyễn Thành C trên các tài liệu mẫu M1; M2 do cùng một người viết ra.

Không đủ c sở kết luận chữ viết trên tài liệu cần giám đ nh ký hiệu A1 đến A4 (trừ chữ viết có nội dung “Nguyễn Thành C”) so với chữ viết đứng tên Nguyễn Thành C trên các tài liệu mẫu M1; M2 có phải do cùng một người viết ra hay không (chữ viết mẫu so sánh ít).

Chữ ký mang tên Nguyễn Thành C trên tài liệu cần giám đ nh ký hiệu A1 đến A4 so với chữ ký đứng tên Nguyễn Thành C trên các tài liệu mẫu ký hiệu M1; M2 do cùng một người ký ra.

Tại Bản án hình sự s thẩm 96/2022/HS-ST ngày 20 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã quyết đ nh:

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Thành C 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 18/10/2021.

Ngoài ra, bản án s thẩm còn quyết đ nh về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, trách nhiệm chậm thi hành án và thông báo quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật.

Ngày 03/01/2023, b hại bà Đặng Th H1 kháng cáo đề ngh tăng hình phạt đối với b cáo vì từ sau khi xét xử s thẩm, gia đình b cáo chưa bồi thường số tiền án s thẩm tuyên cho bà.

Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, b hại bà Đặng Th H1 có đ n xin xét xử vắng mặt, nêu ý kiến yêu cầu Hội đồng xét xử tăng hình phạt đối với b cáo Nguyễn Thành C.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát biểu: số tiền b cáo Nguyễn Thành C chiếm đoạt gấp h n 10 lần mức khởi điểm của khung hình phạt, Toà án cấp s thẩm xử phạt b cáo 08 năm 06 tháng tù là nhẹ. Đề ngh Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của b hại Đặng Th H1, sửa bản án s thẩm, tăng hình phạt đối với b cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:

Về thủ tục tố tụng: căn cứ Điều 72, Điều 75, Điều 76 của Bộ luật Tố tụng Hình sự thì b cáo Nguyễn Thành C thuộc trường hợp được chỉ đ nh người bào chữa. Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã có văn bản đề ngh Đoàn luật sư tỉnh Thừa Thiên Huế cử người bào chữa cho b cáo Nguyễn Thành C nhưng ngày 07/3/2023 b cáo đã có đ n từ chối người bào chữa. B cáo tự bào chữa nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận. B hại bà Đặng Th H1 có đ n xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử quyết đ nh xét xử vắng mặt b hại.

Quá trình điều tra, truy tố, xét xử s thẩm và tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, b cáo Nguyễn Thành C khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của b cáo phù hợp với lời khai của b hại và những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ s vụ án. Do thua lỗ tiền đầu tư mua vàng và dầu trên sàn FXPRO nên C nảy sinh ý đ nh chiếm đoạt tiền của bà Đặng Th H1. Vào các ngày 23/9, 28/9 và 29/9/2020, C đã gọi điện nói dối với bà H1 là cần vay tiền để làm hồ s mua đất cho khách hàng, bảy ngày sau dùng thửa đất của khách hàng vay thế chấp giải ngân trả lại tiền vay và lãi cho bà H1. Biết C là cán bộ tín dụng ngân hàng nên bà H1 tin lời nói của C, đồng ý cho C vay tổng cộng 5.100.000.000đồng. C không dùng số tiền này để nộp tiền mua đất cho khách hàng như đã nói mà dùng vào việc trả nợ và tiếp tục đầu tư mua dầu trên sàn FXPRO và thua lỗ hết. Hành vi của b cáo rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ. Tòa án cấp s thẩm xử phạt b cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có c sở, đúng người, đúng tội.

Xét kháng cáo đề ngh tăng hình phạt đối với b cáo C của b hại bà Đặng Th H1 vì lý do từ sau khi xét xử s thẩm đến nay, gia đình b cáo chưa bồi thường số tiền án s thẩm tuyên cho bà, Hội đồng xét xử thấy: trong thời gian ngắn, b cáo đã nhiều lần dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của bà H1 tổng cộng 5.100.000.000đồng, đã trả 1.000.000.000đồng, còn 4.100.000.000đồng. Tòa án cấp s thẩm áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy đ nh tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự cho b cáo. Tuy nhiên, số tiền b cáo chiếm đoạt là rất lớn, Toà án cấp s thẩm xử phạt mức án 08 năm 06 tháng tù là quá nhẹ, chưa tư ng xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và không đảm bảo tác dụng giáo dục, răn đe b cáo và phòng ngừa chung. Sau khi xét xử s thẩm, b cáo không động viên gia đình khắc phục phần nào thiệt hại bản án s thẩm tuyên nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của b hại bà Đặng Th H1, chấp nhận đề ngh của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, tăng hình phạt đối với b cáo Nguyễn Thành C.

Các quyết đ nh khác còn lại của bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng ngh nên không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

1. Chấp nhận kháng cáo của b hại bà Đặng Th H1 và sửa bản án s thẩm.

2. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Thành C 10 (Mười) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 18/10/2021.

3. Về án phí: bà Đặng Th H1 không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết đ nh khác của bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng ngh đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ