- Tranh chấp gì? án hình sự — "sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị A phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 30 /2023/HS.ST Ngày: 08 - 6 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tò a: ông Nguyễn Văn Thiện.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Huy Cường;
- Ông Trần Thanh Hoàng.
Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Minh Hiếu - Là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xãTịnh Biên tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh Kiều - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2023/QĐXXST - HS ngày 19/5/2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị A, sinh năm 1985; tại: TB, An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: tổ 9, khóm TS, thị trấn NB, huyện TB (nay là phường Nhà Bàng, thị xã TB), tỉnh An Giang; nghề nghiệp: nội trợ ; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiền Lâm; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S (1962) và bà Hồ Thị Nh (1967); chồng: Danh Kim Đ, sinh năm 1983 (đã ly hôn) và có 01 con; anh, chị, em ruột: có 02 người, bị cáo là người thứ nhất.
Tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/11/2022 cho đến nay, tại Nhà tạm giữ - Công an thị xã Tịnh Biên (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đặng Thị Mỹ D, sinh năm 1978; nơi cư trú: khóm XH, phường TB, thị xã TB, tỉnh An Giang – có mặt;
- Bà Lê Thị Tố Tr, sinh năm 1982; nơi cư trú: tổ 8, ấp VH, xã VT, thị xã TB, tỉnh An Giang – có mặt;
- Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1986; nơi cư trú: tổ 13, khóm SĐ, phường NB, thị xã TB, tỉnh An Giang – vắng;
- Ông Thái Bảo Đ, sinh năm 1995; nơi cư trú: khóm XB, phường TB, thị xã TB, tỉnh An Giang – vắng;
- Ông Lê Trung H, sinh năm 1980; nơi cư trú: tổ 7, khóm 6, phường CPA, thành phố CĐ, tỉnh An Giang – vắng;
- Bà Trịnh Kim L, sinh năm 1990; nơi cư trú: khóm XP, phường TB, thị xã TB, tỉnh An Giang – vắng.
Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Thanh Ph – vắng;
- Bà Nguyễn Thị Yến Nh – vắng;
- Ông Tống Văn Th – có mặt;
- Ông Trần Văn H – vắng;
- Ông Lý Thanh T – vắng;
- Bà Trần Kim Ph – vắng;
- Bà Nguyễn Thị Th – có mặt;
- Ông Nguyễn Hồng V – vắng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 4/2019, sau khi vay của bà Nguyễn Thị D 200.000.000 đồng, An đưa giấy chứng nhận giả số CP 081328 để bảo đảm, bị phát hiện nên A đã trả cho bà D số tiền 200.000.000 đồng;
Tháng 4/2019, sau khi vay của bà Đặng Thị Mỹ D 1.500.000.000 đồng, A thỏa thuận ký hợp đồng ủy quyền về việc tặng cho, chuyển nhượng quyền sử dụng đất giả số CP 081328 cho bà D, sau đó A đưa hợp đồng và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cho bà D giữ.
Tháng 7/2019, sau khi vay của bà Lê Thị Tố Tr 1.140.000.000 đồng, A ký hợp đồng ủy quyền về việc tặng cho, chuyển nhượng quyền sử dụng đất giả số CP 081328 cho bà Tr hợp đồng được công chứng tại Văn phòng công chứng Lê Trung Hậu, sau đó A đưa hợp đồng và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cho bà Tr giữ.
Quá trình điều tra xác định: từ tháng 4/2019 đến tháng 7/2019, Nguyễn Thị A sau khi vay tiền của bà Đặng Thị Mỹ D, bà Lê Thị Tố Tr và bà Nguyễn Thị D, nhưng do không trả vốn và lãi cho bà D, bà Trinh và bà D đúng hạn, nên đã sử dụng 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả số CP 081328, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH06349, diện tích 36.118 m2, tọa lạc tại thị trấn Tịnh Biên, huyện Tịnh Biên (nay là phường Tịnh Biên, thị xã Tịnh Biên) tỉnh An Giang do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thị xã) Tịnh Biên cấp ngày 31/01/2019 đứng tên Nguyễn Thị A đưa cho bà Nguyễn Thị D cất giữ và ký hợp đồng ủy quyền về việc tặng cho, chuyển nhượng quyền sử dụng đất giả số CP 081328 cho bà D, bà Tr sau đó A đưa hợp đồng và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cho bà D , bà Tr giữ với mục đích để bảo đảm khoản nợ vay.
Tại Bản kết luận giám định số 04/KLGT-PC09 (TL), ngày 28/02/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang, kết luận:
- Dấu vân tay màu đỏ in dưới mục Bên ủy quyền (bên A), vị trí ký và viết tên Nguyễn Thị A tại trang 2 trên “Hợp đồng ủy quyền về việc tặng cho, chuyển nhượng quyền sử dụng đất” ,ký hiệu TLCGĐ: A với dấu vân tay in trên Chỉ bản lập ngày 18/02/2021 tại Công an huyện Tịnh Biên viết tên Nguyễn Thị A, sinh năm 1985, nơi cư trú: khóm Trà Sư, thị trấn Nhà Bàng, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, ký hiệu TLMSS : M1 là của một người in ra.
- Dấu vân tay màu đỏ in dưới mục Bên được ủy quyền (bên B), vị trí ký và viết tên Đặng Thị Mỹ D tại trang 2 trên “Hợp đồng ủy quyền về việc tặng cho, chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, ký hiệu TLCGĐ: A với dấu vân tay in trên Chỉ bản lập ngày 19/02/2021 tại Công an huyện Tịnh Biên viết tên Đặng Thị Mỹ D, sinh năm 1978, nơi cư trú: khóm Xuân Hòa, thị trấn Tịnh Biên, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, ký hiệu TLMSS: M2 là của cùng một người in ra.
Tại Bản kết luận giám định số 19/KLGT-PC09 (TL), ngày 07/3/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang, kết luận:
- Chữ ký và chữ viết họ tên “Nguyễn Thị A” dưới mục “Bên ủy quyền” và :Bên B” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2 so với chữ ký và chữ viết của Nguyễn Thị A trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1,M2 do cùng một người ký và viết ra.
- Chữ ký và chữ viết họ tên “Đặng Thị Mỹ D” dưới mục “Bên được ủy quyền” và “Bên A” trên tài liệu cần giám định A1, A2 so với chữ ký và chữ viết của Đặng Thị Mỹ D trên tài liệu mẫu so sánh M3, M4 do cùng một người ký và viết ra.
Tại Bản kết luận giám định số 20/KLGT-PC09 (TL), ngày 13/3/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang, kết luận:
- 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đứng tên Nguyễn Thị A, số sê ri; CP 081328, số vào sổ cấp GCN; CH 06349, diện tích 36.118 m2, tọa lạc tại thị trấn Tịnh Biên, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang ghi Ủy ban nhân dân huyện Tịnh Biên cấp ngày 31/01/2019, do bà Đặng Thị Mỹ D giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Tịnh Biên (ký hiệu; A1) là phôi giấy giả.
- 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đứng tên Nguyễn Thị A, số sê ri; CP 081328, số vào sổ cấp GCN; CH 06349, diện tích 36.118 m2, tọa lạc tại thị trấn Tịnh Biên, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang ghi Ủy ban nhân dân huyện Tịnh Biên cấp ngày 31/01/2019, do bà Dương Thị Bích Tuyền giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Tịnh Biên (ký hiệu; A2) là phôi giấy giả.
- Chữ ký mang tên Nguyễn Thanh Hùng trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2 so với chữ ký mang tên Nguyễn Thanh Hùng trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M2 không phải do cùng một người ký ra.
- Hình dấu tròn “Ủy ban nhân dân huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2 so với hình dấu tròn “Ủy ban nhân dân huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang” trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M3 không phải do cùng một con dấu đóng ra.
Tại Bản kết luận giám định số 05/KLGT-PC09 (ĐV), ngày 29/4/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang, kết luận:
- Dấu vân tay màu đỏ in dưới mục Bên ủy quyền (Bên A), vị trí ký và viết tên Nguyễn Thị A tại trang 2 trên “Hợp đồng ủy quyền về việc tặng cho , chuyển nhượng quyền sử dụng đất” ngày 29/7/2019, ký hiệu TLCGĐ: A với dấu vân tay in trên Chỉ bản lập ngày 18/02/2019 tại Công an huyện Tịnh Biên viết tên Nguyễn Thị A, nơi cư trú: khóm Trà Sư, thị trấn Nhà Bàng, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, ký hiệu TLMSS: M1 là của cùng một người in ra.
- Dấu vân tay màu đỏ in dưới mục Bên được ủy quyền (bên B), vị trí ký và viết tên Lê Thị Tố Tr tại trang 2 trên “Hợp đồng ủy quyền về việc tặng cho, chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, ngày 29/7/2019 ký hiệu TLCGĐ: A với dấu vân tay in trên Chỉ bản lập ngày 16/3/2021 tại Công an huyện Tịnh Biên viết tên Lê Thị Tố Tr, sinh năm 1982, nơi ĐKTT: ấp Vĩnh Hạ, xã Vĩnh Trung, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, ký hiệu TLMSS: M2 là của cùng một người in ra.
Tại Bản kết luận giám định số 43/KLGT-PC09 (TL), ngày 07/5/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang, kết luận:
- Chữ ký và chữ viết họ tên “Nguyễn Thị A” dưới mục “Bên Ủy quyền”, “Bên nhận” và “Người viết” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 đến A4 so với chữ ký và chữ viết của Nguyễn Thị A trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 do cùng một người ký và viết ra.
- Chữ ký và chữ viết họ tên “Lê Thị Tố Tr” dưới mục “Bên được ủy quyền”, “Bên giao” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 đến A3 so với chữ ký và chữ viết của Lê Thị Tố Tr trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M3, M4 do cùng một người ký và viết ra.
Tại Bản kết luận giám định số 44/KLGT-PC09 (TL), ngày 14/5/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang, kết luận:
- 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đứng tên Nguyễn Thị A, số sê ri; CP 081328, số vào sổ cấp GCN; CH 06349, diện tích 36.118 m2, tọa lạc tại thị trấn Tịnh Biên, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang ghi Ủy ban nhân dân huyện Tịnh Biên cấp ngày 31/01/2019, do bà Lê Thị Tố Tr giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Tịnh Biên (ký hiệu; A1) là phôi giấy giả.
- Chữ ký mang tên Nguyễn Thanh Hùng trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 so với chữ ký mang tên Nguyễn Thanh Hùng trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M2 không phải do cùng một người ký ra.
- Hình dấu tròn “Ủy ban nhân dân huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 so với hình dấu tròn “Ủy ban nhân dân huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang” trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M3 không phải do cùng một con dấu đóng ra.
Tại Bản kết luận giám định số 23/KLGT-PC09 (ĐV), ngày 06/10/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang, kết luận:
- 01 dấu vân tay in tại vị trí ký và viết tên: Nguyễn Thị A, trong “Hợp đồng ủy quyền (V/v tặng cho, chuyển nhượng quyền sử dụng đất)” theo hồ sơ công chứng số 604 - Quyển số 02TP/CC- SCC- UQ, lập ngày 29/7/2019 tại Văn phòng công chứng Lê Trung Hậu- huyện Tịnh Biên- tỉnh An Giang (ký hiệu A1)và dấu vân tay in trong Chỉ bản lập ngày 18/02/2021, mang tên: Nguyễn Thị A, sinh năm 1985, nơi cư trú: khóm Trà Sư, thị trấn Nhà Bàng, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang (ký hiệu M1) là cùng một người in ra.
- 01 dấu vân tay in tại vị trí ký và viết tên: Lê Thị Tố Tr trong “Hợp đồng ủy quyền (V/v tặng cho, chuyển nhượng quyền sử dụng đất)” theo hồ sơ công chứng số 604 - Quyển số 02TP/CC- SCC- UQ, lập ngày 29/7/2019 tại Văn phòng công chứng Lê Trung Hậu- huyện Tịnh Biên- tỉnh An Giang (ký hiệu A1)và dấu vân tay in trong Chỉ bản lập ngày 16/3/2021, mang tên: Lê Thị Tố Tr, sinh năm 1982, nơi cư trú: ấp Vĩnh hạ, xã Vĩnh Trung, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang (ký hiệu M2) là cùng một người in ra.
- 01 dấu vân tay in tại vị trí ký và viết tên: Nguyễn Thị A, trong “Phiếu yêu cầu công chứng hợp đồng, văn bản, lập ngày 22/7/2019” (ký hiệu A2) và dấu vân tay in trong Chỉ bản lập ngày 18/02/2021, mang tên: Nguyễn Thị A, sinh năm 1985, nơi cư trú: khóm Trà Sư, thị trấn Nhà Bàng, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang (ký hiệu M1) là cùng một người in ra.
Tại Bản kết luận giám định số 136/KLGT-PC09 (TL), ngày 22/10/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang, kết luận:
- Chữ ký và chữ viết họ tên Nguyễn Thị A trên hợp đồng ủy quyền (V/v tặng cho, chuyển nhượng quyền sử dụng đất) ngày 29/7/2019 và Phiếu yêu cầu công chứng hợp đồng, văn bản, ngày 29/7/2019 so với chữ ký và chữ viết mang tên Nguyễn Thị A trên các tài liệu mẫu so sánh do cùng một người ký và viết ra.
- Chữ ký và chữ viết họ tên Lê Thị Tố Tr trên hợp đồng ủy quyền (V/v tặng cho, chuyển nhượng quyền sử dụng đất) ngày 29/7/2019 so với chữ ký và chữ việt mang tên Lê Thị Tố Tr trên các tài liệu mẫu so sánh do cùng một người ký và viết ra.
Vật chứng thu giữ:
- 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đứng tên Nguyễn Thị A, số sê ri; CP 081328, số vào sổ cấp GCN; CH 06349, diện tích 36.118 m2, tọa lạc tại thị trấn Tịnh Biên, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang ghi Ủy ban nhân dân huyện Tịnh Biên cấp ngày 31/01/2019.
- 02 hợp đồng ủy quyền.
- 01 tờ thỏa thuận về việc mượn và cam kết trả nợ.
- 02 biên nhận, 01 tờ cam kết.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại gì các Bản kết luận giám định.
Tại Cáo trạng số 27/CT-VKSTB.HS ngày 19 tháng 4 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên đã truy tố Nguyễn Thị A về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tại cơ quan Điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Nguyễn Thị A khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng có mặt, cũng như vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung cáo trạng đã nêu trên.
Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 341; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị A từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điều 46 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị lưu hồ sơ vụ án : 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đứng tên Nguyễn Thị A, số sê ri; CP 081328, số vào sổ cấp GCN; CH 06349, diện tích 36.118 m2, tọa lạc tại thị trấn Tịnh Biên, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang ghi Ủy ban nhân dân huyện Tịnh Biên cấp ngày 31/01/2019; 02 hợp đồng ủy quyền; 01 tờ thỏa thuận về việc mượn và cam kết trả nợ; 02 biên nhận; 01 tờ cam kết.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1].Về tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ngườ i làm chứ ng đã được Tòa án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2]. Về nội dung: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị A đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan Điều tra phù hợp với lời khai tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, cùng các vật chứng thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Từ tháng 4/2019 đến tháng 7/2019, sau khi vay tiền của bà Đặng Thị Mỹ D, bà Lê Thị Tố Tr và bà Nguyễn Thị D, sử dụng vào việc cho những người khác vay lại để đáo hạn tiền vay ngân hàng, nhưng do không trả vốn và lãi cho bà D, bà Tr và bà D đúng hạn, nên bị cáo Nguyễn Thị A đã sử dụng 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả cùng số CP 081328, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH06349, diện tích 36.118 m2, tọa lạc tại thị trấn Tịnh Biên, huyện Tịnh Biên (nay là phường Tịnh Biên, thị xã Tịnh Biên) tỉnh An Giang do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thị xã) Tịnh Biên cấp ngày 31/01/2019 đứng tên Nguyễn Thị A đưa cho bà Nguyễn Thị D cất giữ và ký hợp đồng ủy quyền về việc tặng cho, chuyển nhượng quyền sử dụng đất giả số CP 081328 cho bà D, bà Tr sau đó An đưa hợp đồng và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cho bà D , bà Tr cất giữ. Sau khi bị phát giác, cơ quan Công an mời làm việc thì A thừa nhận sau khi vay tiền đã sử dụng 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để bảo đảm khoản nợ vay.
Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo Nguyễn Thị A đã phạm tội “Sử dụng tài liệu của cơ quan, tổ chức”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 341của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 02 năm đến 05 năm tù (tội phạm nghiêm trọng)
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý hành chính, sự hoạt động đúng đắn bình thường của các cơ quan, tổ chức nhà nước; gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến trật tự trị an và an toàn trong xã hội. Do đó, cần phải xử lý thật nghiêm mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[3]. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội. Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo Nguyễn Thị A là người thành niên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có trình độ học vấn cao, đã từng có thời gian công tác tại cơ quan nhà nước, nên bản thân nhận thức rõ hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, từ đó thể hiện ý thức tôn trọng pháp luật kém; do đó, việc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội là cần thiết. Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa buộc bị cáo phải chấp hành phạt tù có thời hạn một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội và mức hình phạt đại diện Viện Kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà bị cáo đã gây ra, nên đề nghị này được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người phụ nữ có thai; là lao động chính trong gia đình và đang nuôi con nhỏ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[4]. Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 4 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, hiện điều kiện hoàn cảnh kinh tế còn khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[5]. Đối với 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, theo bị cáo Nguyễn Thị A khai nhờ bà Lê Thị Tố Tr làm với giá là 15.000.000 đồng. Tuy nhiên, bà Lê Thị Tố Tr không thừa nhận và ngoài lời khai của bị cáo thì không còn tài liệu chứng cứ gì, nên không đủ căn cứ quy kết Lê Thị Tố Tr về hành vi làm giả tài liệu, con dấu của cơ quan, tổ chức. Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan Điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ yêu cầu xử lý theo đúng quy định của pháp luật về hành vi “Làm giả tài liệu, con dấu của cơ quan, tổ chức”.
[6]. Trách nhiệm dân sự: do đương sự không có yêu cầu, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[7]. Đối với vật chứng thu giữ: 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đứng tên Nguyễn Thị A, số sê ri; CP 081328, số vào sổ cấp GCN; CH 06349, diện tích 36.118 m2, tọa lạc tại thị trấn Tịnh Biên, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang ghi Ủy ban nhân dân huyện Tịnh Biên cấp ngày 31/01/2019; 02 hợp đồng ủy quyền; 01 tờ thỏa thuận về việc mượn và cam kết trả nợ; 02 biên nhận; 01 tờ cam kết, cũng là tài liệu chứng cứ nên lưu trong hồ sơ vụ án.
[8].Về án phí: bị cáo Nguyễn Thị A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị A phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 341; điểm n, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38, của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: xử phạt bị cáo Nguyễn Thị A 02 (hai) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ( ngày 25 tháng 11 năm 2022).
Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sư năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: lưu hồ sơ vụ án 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đứng tên Nguyễn Thị A, số sê ri; CP 081328, số vào sổ cấp GCN; CH 06349, diện tích 36.118 m2, tọa lạc tại thị trấn Tịnh Biên, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang ghi Ủy ban nhân dân huyện Tịnh Biên cấp ngày 31/01/2019; 02 hợp đồng ủy quyền; 01 tờ thỏa thuận về việc mượn và cam kết trả nợ; 02 biên nhận; 01 tờ cam kết.
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án : buộc bị cáo Nguyễn Thị A phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn) tiền án phí hình sự sơ thẩm .
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo bản án , 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; - Sở Tư Pháp tỉnh An Giang; - VKSND thị xã Tịnh Biên; - Nhà Tạm giữ, CA thị xã Tịnh Biên; - Chi cục THADS thị xã Tịnh Biên ; - THA HS CA thị xã Tịnh Biên - Bộ phận THA Tòa án; - UBND cấp xã nơi BC cư trú ; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thiện |