vanban.org

Bản án 30/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 16/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thu Th phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Thu Th 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/8/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thu Th phạm tội Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thu Th phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2023/HS-ST
Ngày 16-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Quốc Dũng;

2. Ông Lê Quang Xẹt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Nam - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nhâm Hoàng Long - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 319/2022/TLST- HS ngày 27 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Thu Th, sinh năm 1999 tại Sóc Trăng; nơi thường trú: Ấp T, xã M, huyện S, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1967 và bà Trần Thị Tuyết H, sinh năm 1975; chưa có chồng, con. Tiền sự, tiền án: Không.

Ngày 16/8/2022 có hành vi Cướp giật tài sản bị bắt quả tang, bị tạm giữ sau đó chuyển sang tạm giam cho đến nay; có mặt.

Bị hại: Công ty TNHH MTV Vàng bạc đá quý Kim Mạnh H; địa chỉ: Thửa đất số B, tờ bản đồ số M, đường DH C, khu phố Đ, phường H, thị xã U, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: Ông Hoàng Văn Đ; chức vụ: Chủ tịch kiêm giám đốc; là người đại diện theo pháp luật; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Trần Thị Tuyết H, sinh năm 1975; thường trú: C ấp T, xã M, huyện S, tỉnh Sóc Trăng; tạm trú: Số M, khu phố B, phường Th, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thu Th không có nghề nghiệp ổn định, Th ở tại Cư xá Hưng L thuộc phường H, thị xã U, tỉnh Bình Dương. Do không có tiền tiêu xài nên Th nảy sinh ý định đi tìm tài sản của người khác để chiếm đoạt bán lấy tiền tiêu xài.

Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 16/8/2022, Th đi bộ một mình từ Cư xá Hưng L đến Công ty TNHH MTV Vàng bạc đá quý Kim Mạnh H thuộc khu phố Đ, phường H, thị xã U, tỉnh Bình Dương do ông Hoàng Văn Đ, trú tại: khu phố C, phường H, thành phố A, tỉnh Bình Dương làm Giám đốc. Lúc này, Th đi vào gặp ông Đ yêu cầu lấy cho Th 01 chiếc nhẫn vàng 9999 (loại nhẫn trơn) trọng lượng 02 chỉ và 01 chiếc nhẫn vàng 9999 (loại nhẫn trơn) trọng lượng 03 chỉ để Th đeo thử. Sau khi được ông Đ đưa 02 chiếc nhẫn, Th đeo vào ngón tay trái, một lúc sau Th nói với ông Đ nhẫn bị kẹt không tháo ra được nên ông Đ đi vào phía trong để lấy chai nước. Khi ông Đ vừa đi vào phía trong cách vị trí Th đứng khoảng 2,5m thì Th nhanh chóng bỏ chạy bộ ra đường cùng với 02 nhẫn vàng đang đeo trên tay, thấy Th bỏ chạy ông Đ chạy đuổi theo. Trong lúc bỏ chạy Th tháo 02 chiếc nhẫn đang đeo trên tay ném ra đường. Th bỏ chạy được khoảng 500m thì bị ông Đ đuổi kịp, bắt giữ bàn giao cho Công an phường H. Tại Cơ quan Công an Th đã thừa nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.

Công an phường H lập hồ sơ ban đầu và chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã U thụ lý theo thẩm quyền.

Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 120/KLTS-TTHS ngày 10/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã U, kết luận: 01 chiếc nhẫn vàng 9999 trọng lượng 02 chỉ tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị 10.600.000 đồng; 01 chiếc nhẫn vàng 9999 trọng lượng 03 chỉ tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị 15.900.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 26.500.000 đồng.

Đối với 01 chiếc nhẫn vàng 9999 trọng lượng 02 chỉ và 01 chiếc nhẫn vàng 9999 trọng lượng 03 chỉ, Th chiếm đoạt của ông Hoàng Văn Đ. Quá trình bỏ chạy Th đã ném ra đường, Cơ quan Cảnh sát tra Công an thị xã Tân Uyên không thu hồi được. Ngày 16/11/2022, bà Trần Thị Tuyết H (mẹ ruột Th) đã bồi thường cho ông Đ số tiền 26.500.000 đồng. Ông Đ không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Th.

Bản Cáo trạng số 21/CT-VKSTU ngày 26/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Thu Th về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận số tiền bồi thường 26.500.000 đồng, không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.

Tại phiên tòa bị cáo đồng ý với nội dung bản cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Trong phần trình bày lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, rất hối hận, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị hại vắng mặt tại phiên tòa. Quá trình điều tra, lời khai của bị hại không mâu thuẫn với lời khai của bị cáo và các chứng cứ khác. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát, bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt bị hại. Xét thấy, việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử, căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại.

[3] Về tình tiết định tội, định khung hình phạt: Bị cáo Nguyễn Thu Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 14 giờ 00 ngày 16/8/2022 tại Công ty TNHH MTV Vàng bạc đá quý Kim Mạnh H thuộc khu phố Đ, phường H, thị xã U, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Thu Th đã có hành vi giả vờ hỏi mua 01 chiếc nhẫn vàng 9999 trọng lượng 02 chỉ và 01 chiếc nhẫn vàng 9999 trọng lượng 03 chỉ có tổng giá trị là 26.500.000 đồng. Khi được ông Hoàng Văn Đ đưa cho Th 02 chiếc nhẫn để đeo thử, Th đã lợi dụng sơ hở của ông Đ nhanh chóng bỏ chạy, chạy được khoảng 500m thì bị bắt giữ. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Cướp giật tài sản quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 21/CT-VKS.TU ngày 26/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần phải xử lý nghiêm cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian, nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận số tiền bồi thường 26.500.000 đồng, không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với bà Trần Thị Tuyết H mẹ bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 26.500.000 đồng nhưng bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị cáo phải trả lại số tiền trên nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[8] Xét thấy, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp nên chấp nhận.

[9] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thu Th phạm tội “Cướp giật tài sản”.

1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thu Th 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/8/2022.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.

3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Thu Th phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nếu vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ