vanban.org

Bản án 30/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 27/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án 27/3/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHÚ MỸ
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2023/HS-ST
Ngày 27 - 3 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Hiền

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Thanh

2. Ông Trần Đình Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 34/2023/HSST ngày 03 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức T, sinh năm 1999; Nơi sinh: tỉnh Hà Nam; Nơi cư trú: Tổ 14, Khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; cha là ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1968; Mẹ là bà Lê Thị L, sinh năm 1968; Vợ bị cáo là Nguyễn Thị T, sinh năm 1999. Bị cáo có 01 con nhỏ sinh năm 2022

Tiền án, Tiền sự: Không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/9/2022 đến nay (có mặt).

- Bị hại: Ông Hồ Tuấn V , sinh năm 1988 ( có mặt)

Địa chỉ: Tổ 2, khu phố Vạn Hạnh, phường Phú Mỹ, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Người làm chứng:

Ông Châu Hồng P, sinh năm 1994 (vắng mặt)

Địa chỉ: tỉnh Đồng Nai.

Ông Mã Thanh L, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Địa chỉ: phường Mỹ Xuân, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Đức T là nhân viên bán hàng của “Cửa hàng điện thoại H V”, địa chỉ: phường Mỹ Xuân, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, T được giao công việc bán điện thoại và bán thẻ chơi game cho khách hàng. Khoảng 10 giờ ngày 17/08/2022, trong lúc đang làm việc tại cửa hàng, T đã lén lút lấy trộm 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 Pro màu trắng bỏ vào túi quần rồi đi vào phòng nghỉ của nhân viên, cất giấu chiếc điện thoại nêu trên vào 01 (một) túi xách bằng vải màu đen, đợi đến khi nghỉ làm sẽ đem đi bán lấy tiền, sau đó T quay lại quầy bán hàng để tiếp tục làm việc. Đến khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày, chủ cửa hàng là anh Hồ Tuấn V, sinh năm: 1988, nơi thường trú tỉnh Đồng Nai kiểm tra phát hiện mất 01 (chiếc) điện thoại nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 Pro màu trắng. Lúc này, T biết sẽ bị phát hiện nên đã đi vào phòng nghỉ lấy chiếc điện thoại trên để vào nơi sửa chữa và hô to “Em thấy máy để ở đây nè”. Anh V nghi ngờ nên kiểm tra lại camera của cửa hàng thì phát hiện T là người lấy trộm chiếc điện thoại nêu trên.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 76/KL-HĐ.ĐGTS ngày 19 tháng 08 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, UBND thị xã Phú Mỹ kết luận: 01 (một) chiếc máy điện thoại di động, nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 Pro màu trắng, dung lượng 256GB, số sê-ri: C39CF7SLN6Y7, số IMEI: 352824110160568 mua cũ vào tháng 08/2022. Tính đến ngày 17/08/2022, tài sản có giá trị: 11.500.000 đồng (mười một triệu, năm trăm nghìn đồng).

Ngoài ra, sau khi bị phát hiện hành vi lấy trộm điện thoại, T khai nhận trong khoảng thời gian từ ngày 08/05/2022 đến 17/08/2022, T đã dùng ứng dụng thanh toán “Viettelpay Pro” của cửa hàng mua 41 (bốn mươi mốt) thẻ game Garena trị giá 20.500.000 đồng (hai mươi triệu năm trăm nghìn đồng) nạp vào tài khoản game của T để chơi game. Qúa trình T nạp thẻ game, có lần T trả tiền, có lần chưa, không nhớ đã trả bao nhiêu lần. Anh V cũng không cung cấp được chứng cứ xác định các lần T tự ý nạp thẻ game chưa thanh toán tiền cho cửa hàng là bao nhiêu. Ngày 30/12/2022, T đã nộp số tiền 20.500.000 đồng nêu trên để trả cho anh Vũ, tuy nhiên, anh V không đồng ý và yêu cầu T bồi thường số tiền là 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng).

Về vật chứng: Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 Pro màu trắng là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Hồ Tuấn V. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Mỹ đã trả lại cho anh V theo Quyết định xử lý vật chứng số 83/QĐ ngày 15/11/2022.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Hồ Tuấn V yêu cầu T bồi thường thiệt hại số tiền là 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng), hiện T chưa bồi thường đủ số tiền nêu trên mà chỉ bồi thường cho anh V nhưng anh V không đồng ý nhận. Hiện số tiền trên đã được chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ bảo quản chờ xử lý.

Tại bản Cáo trạng số: 28/CT- VKS ngày 16/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã truy tố Nguyễn Đức T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa: Bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai của mình tại cơ quan điều tra và khai nhận toàn bộ hành vi trái pháp luật của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và phát biểu luận tội, phân tích hành vi phạm tội của các bị cáo, hậu quả do bị cáo gây ra, cũng như đặc điểm nhân thân của các bị cáo. Về hình phạt chính: đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, nhưng được hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng;

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị.

Về xử lý vật chứng: Không đề nghị

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường thiệt hại 20.5000.000 (hai mươi triệu năm trăm nghìn đồng) của bị cáo bồi thường cho bị hại.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo đúng quy định pháp luật

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để các bị cáo có cơ hội đi làm nuôi con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1Về tố tụng:

Qua xem xét toàn bộ hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan điều tra, viện kiểm sát đã tuân thủ nghiêm thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định tại các điều 88, 98, 105 Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra không có bức cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

2 Về tội danh và điều luật áp dụng:

Lời khai nhận tội tại phiên tòa của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và lời khai của bị hại cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 10 giờ ngày 17/8/2022, tại Cửa hàng điện thoại đi động “H V”, địa chỉ: phường Mỹ Xuân, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, Nguyễn Đức T đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 Pro màu trắng của anh Hồ Tuấn V. Trị giá tài sản mà T đã chiếm đoạt là 11.500.000 đồng (Mười một triệu năm trăm nghìn đồng).

Việc định giá tài sản bị thiệt hại của Hội đồng định giá Uỷ ban nhân dân thị xã Phú Mỹ đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luật định giá. Do đó, Kết luận định giá nêu trên là hợp pháp.

Vì vậy, hành vi của bị cáo đủ dấu hiệu cấu thành tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật. Tuy nhiên, vì hám lợi, thích hưởng thụ nhưng lười lao động nên bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội.Vì thế, với tính chất, mức độ phạm tội như trên cần xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội bằng hình phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục bị cáo, giúp bị cáo nhận ra lỗi lầm của mình đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm T, thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn, hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, phải đi làm thuê để kiếm sống nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Từ căn cứ trên, xét bị cáo là người có nhân thân tốt và lần đầu phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Do đó không cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội, mà cho bị cáo hưởng án treo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Đối với hành vi nhiều lần tự ý nạp thẻ chơi game có tổng giá trị là 20.500.000 đồng: T thừa nhận quá trình nạp thẻ game, có lần T trả tiền ngay, có lần T chưa trả vì chưa có tiền. T không có ý định chiếm đoạt số tiền này. Ngoài ra, không có tài liệu, chứng cứ chứng minh số tiền T đã tự ý nạp thẻ game chưa thanh toán là bao nhiêu. So sánh đối chiếu tài liệu mà công ty cổ phần giải trí và thể thao điện tử Việt Nam cung cấp và bản đối chiếu các giao dịch từ ngày 20/6/2022 đến ngày 18/8/2022 của Cửa hàng điện thoại Hồ V thể hiện: T nạp 41 thẻ này thành nhiều ngày, ngày cao nhất là 05 thẻ (2.500.000đ) do đó chưa đủ định lượng cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 Pro màu trắng đã được thu hồi và trả lại cho anh Hồ Tuấn V. Tại phiên tòa anh Hồ Tuấn V không yêu cầu bị cáo bồi thường 400.000.00đ mà chỉ yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật. Về yêu cầu này anh Hồ Tuấn V không cung cấp được những tài liệu chứng cứ chứng minh bị thiệt hại số tiền là bao nhiêu và những thiệt hại này phải do lỗi của bị cáo. Anh Hồ Tuấn V chỉ đối chiếu được số tiền thất thoát từ việc nạp thẻ game là 41 thẻ, mỗi thẻ 500.000đ. Tổng cộng là 20.500.000đ, vì thế bị cáo chỉ có trách nhiệm bồi thường cho anh Hồ Tuấn V số tiền này, và số tiền này bị cáo đã giao nộp hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thành án dân sự thị xã Phú Mỹ. Anh Hồ Tuấn V được nhận số tiền 20.500.000đ tại Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ. Nếu sau này anh Hồ Tuấn V có chứng cứ chứng minh bị thiệt hại số tiền nhiều hơn từ hành vi của bị cáo T thì anh Hồ Tuấn V được quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự hoặc làm đơn tố giác tội phạm nếu có dấu hiệu tội phạm.

Về xử lý vật chứng: Không

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Do bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 20.500.000đ trước khi vụ án được xét xử nên bị cáo không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án 27/3/2023.

Giao bị cáo Nguyễn Đức T cho Ủy ban nhân dân phường Mỹ Xuân, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Mỹ Xuân giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo; nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật hình sự.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự 2019.

3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường thiệt hại số tiền 20.500.000 (hai mươi triệu năm trăm nghìn đồng) của bị cáo bồi thường thiệt hại cho anh Hồ Tuấn V. Số tiền trên hiện đang được bảo quản tại chi Cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ theo biên lai thu tiền số 0002099 ngày 27/02/2023. Anh Hồ Tuấn V được quyền nhận số tiền 20.500.000 (hai mươi triệu năm trăm nghìn đồng) trên tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ.

4. Về vật chứng: Không

5.Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn) đồng.

6. Về quyền kháng cáo: trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ