vanban.org

Bản án 30/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 5, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 11/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc H 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 29 tháng 11 năm 2022.

Bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Phúc Hậu phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc H 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 29 tháng 11 năm 2022.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2023/HS-ST
Ngày: 11- 4 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Cư

Ông Lương Hùng Đức

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm– Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Đẩu- Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 3 năm 2023, quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 24/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Phúc H, sinh ngày ngày 14 tháng 8 năm 1994 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: TK 53/38 Bis Võ Văn K, phường C, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Không nơi ở nhất định; Nghề nghiệp: Thợ sơn; Học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Anh H; con bà: Trần Thị H; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 09/11/2018 bị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 18 (mười tám) tháng, đến ngày 11/02/2020 chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/11/2022 (có mặt tại phiên tòa)

Bị hại: Bà Đào Trúc Trang T, sinh năm 1996; Nơi cư trú: 143/2 Nguyễn T, Phường H, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Với mục đích trộm cắp tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài, Nguyễn Phúc H một mình đi bộ từ Quận 1 đến Quận 5 qua nhiều tuyến đường tìm tài sản của người khác sơ hở để trộm cắp. Đến khoảng 21 giờ 50 ngày 28/11/2022, H đi bộ vào hẻm 143 Nguyễn Trãi, Phường 2, Quận 5 thì nhìn thấy một xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn đen đỏ, biển số 64G1 – 198.48 của bà Đào Trúc Trang T đang dựng trước nhà số 143/2 Nguyễn Trãi, Phường 2, Quận 5, không có người trông coi. Lúc này, H đi bộ đến gần, thấy xe không khóa cổ, không khóa phụ bằng ổ khóa và quan sát xung quanh không có ai trông giữ nên H dùng hai tay đẩy bộ xe mô tô 64G1–198.48 ra khỏi hẻm 143 Nguyễn Trãi đi tìm chỗ làm chìa khóa, khi đến trước nhà số 258 Lê Hồng Phong, Phường 4, Quận 5 thì ông Huỳnh Quốc K và ông Vi Thành T nhìn thấy H có biểu hiện nghi vấn nên giữ H cùng xe mô tô biển số 64G1 – 198.48 lại, rồi trình báo Công an Phường 4, Quận 5 đến hỗ trợ. Tại Công an Phường 4, Quận 5, H thừa nhận hành vi trộm cắp xe mô tô 64G1 – 198.48 tại trước nhà số 143/2 Nguyễn Trãi, Phường 2, Quận 5 nên Công an Phường 4, Quận 5 bàn giao H cùng tang vật đến Công an Phường 2, Quận 5 lập hồ sơ xử lý.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 5, H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. H khai thực hiện hành vi phạm tội một mình, không có ai khác cùng tham gia. Tiến hành thực nghiệm điều tra, Nguyễn Phúc H diễn lại hành vi phù hợp với nội dung vụ án.

Về vật chứng: 01 (một) chiếc xe gắn máy hiệu Honda Vision, biển số: 64G1-198.48, đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Đào Trúc Trang T đã nhận lại chiếc xe nên không có yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 139/KL-HĐĐGTS ngày 30/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh kết luận như sau: Xe gắn máy hiệu Honda Vision (Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 010601, biển số: 64G1-198.48, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 80%) tại thời điểm định giá tháng 11 năm 2022 có giá 15.000.000 đồng/chiếc (Mười lăm triệu đồng).

Bản cáo trạng số: 22/CT-VKSQ5 ngày 21/03/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Phúc H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Phúc H về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc H với mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; về vật chứng: Chiếc xe đã thu hồi trả lại chi bị hại nên đề nghị không xem xét; Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Bị cáo Nguyễn Phúc H không có ý kiến bào chữa, không tranh luận và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 5, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa công khai, bị cáo Nguyễn Phúc H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Nguyễn Phúc H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe gắn máy hiệu Honda Vision, biển số: 64G1-198.48 của bà Đào Trúc Trang T đang dựng trước nhà số 143/2 Nguyễn Trãi, Phường 2, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo kết luận định giá tài sản số 139/KL-HĐĐGTS ngày 30/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Xe gắn máy hiệu Honda Vision (Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 010601, biển số: 64G1-198.48, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 80%) tại thời điểm định giá tháng 11 năm 2022 có giá 15.000.000 đồng/chiếc (Mười lăm triệu đồng). Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Phúc H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét bị cáo là người trưởng thành, có sức khỏe, có đủ khả năng nhận biết được hành vi của mình, biết hành vi trộm cắp là vi phạm pháp luật, vì tham lam mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự xã hội ở địa phương. Do đó, cần phải có một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; nhằm mục đích giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản đã thu hồi trả lại cho người bị hại xem như chưa gây thiệt hại. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, từng bị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian nhất định, nhưng khi chấp hành xong bị cáo tiếp tục tái nghiện và thực hiện hành vi phạm tội để có tiền sử dụng ma túy nên cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù với một thời gian nhất định để có thể cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội và tạo điều kiện để bị cáo cai nghiện ma túy.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.

Về xử lý vật chứng: 01 (một) chiếc xe gắn máy hiệu Honda Vision, biển số: 64G1-198.48, Cơ quan Công an đã thu hồi trả lại cho bị hại là đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Đào Trúc Trang T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc H 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 29 tháng 11 năm 2022.

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.

Bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ