vanban.org

Bản án 30/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 21/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh T, Phan Văn G, Huỳnh Ngọc Thiên L, Nguyễn Ngọc T, Lê Thanh S và Nguyễn Thị Thanh N phạm tội “Cướp giật tài sản” .

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 03 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/4/2022. Xử phạt bị cáo Phan Văn G 03 (ba) năm 3 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 08/4/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh T, Phan Văn G, Huỳnh Ngọc Thiên L, Nguyễn Ngọc T, Lê Thanh S và Nguyễn Thị Thanh N phạm tội “Cướp giật tài sản” .
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2023/HS-ST
Ngày: 21-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Ngọc Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Dương Minh Kiên

Bà Trương Thị Hồng Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2023 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm đã thụ lý số: 262/2022/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Minh T, sinh năm: 2003, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Phường S, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh;Chỗ ở: phường C, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc:kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đặng S, sinh năm 1983 và bà Đặng Thị Huỳnh T (đã chết), sinh năm 1985; Chưa có vợ; tiền án: không; tiền sự: Không; Tạm giam: 09/4/2022; (Có mặt).

2. Phan Văn G, sinh năm: 2001, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Phường I, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Phường K, quận Gò Vấp,Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn D, (đã chết) và bà Phan Thị Ánh T, sinh năm 1982; chưa có vợ; tiền án: không; tiền sự: không; Tạm giữ, tạm giam: 08/4/2022; (Có mặt)

3. Lê Thanh S, sinh năm: 2002, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: xã U, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long an; Tạm trú: phường C, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông không rõ họ tên và bà Lê Thị Kim L, sinh năm 1976; chưa có vợ; tiền án: Ngày 28/11/2019 Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” (bản án số 185/HSST); tiền sự: không; Tạm giữ, tạm giam: 09/4/2022 (Có mặt)

4. Huỳnh Ngọc Thiên L, sinh năm: 2000, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Phường B, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Ngọc Đăng D, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thúy N, sinh năm 1981; chưa có vợ; tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 04/02/2021 Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Nhân thân: Ngày 21/03/219 Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xử phạt 01 năm 3 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “không tố giác tội phạm” (bản án số 38/HSST); Tạm giữ, tạm giam: 09/4/2022 (Có mặt)

5. Nguyễn Ngọc T, sinh năm: 2003, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Phường O, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1972 và bà Trần Thị Thanh Th, sinh năm 1978; chưa có vợ; tiền án: Không; Tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: 13/4/2022 (Có mặt)

6. Nguyễn Thị Thanh N, sinh ngày: 08/3/2004, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: phường X, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ; Tạm trú: thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1982; chưa có chồng có 02 con sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2023; tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại. (Có mặt)

Bị hại: - Bà Lưu Thị Thanh H, sinh năm: 2002; Trú tại: Phường V, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh,(Vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/- Ông Trương Công H1, sinh năm 1985;trú tại: quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt); 2/- Bà Lê Thị Kim L, sinh năm 1976; Trú tại: phường C, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt);3/- Ông Trịnh Tiến Th, sinh năm 1992; trú tại: thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.(Vắng mặt);4/- Ông Phạm Minh D, sinh năm 1955; Trú tại: quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 08/4/2022, Nguyễn Minh T, Phan Văn G, Lê Thanh S, Huỳnh Ngọc Thiên L, Nguyễn Ngọc T, Lê Trung H, Lê Thành L, Nguyễn Thị Thanh N, Phạm Thị Tuyết L (bạn gái Nguyễn Ngọc T), Trần Thị Thanh Nh (bạn gái của Phan Văn G) và 05 người khác (đều là nữ) đi ăn hủ tiếu tại đường Bùi Đình Túy, quận Bình Thạnh. Nhóm Nguyễn Minh T, Phan Văn G, Lê Thanh S, Huỳnh Ngọc Thiên L, Nguyễn Ngọc T, Lê Trung H, Lê Thành L ngồi một bàn. Còn Nguyễn Thị Thanh N, Phạm Thị Tuyết L, Trần Thị Thanh Nh cùng nhóm bạn nữ còn lại ngồi ăn ở bàn bên cạnh. Tại đây, T rủ G đi cướp giật tài sản của người khác đem bán lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân thì G đồng ý, lúc này Lê Thanh S, Huỳnh Ngọc Thiên L, Nguyễn Ngọc T cùng nghe và đồng ý. T bàn bạc với cả nhóm và phân công như sau: G chở T trực tiếp cướp giật tài sản, còn S, L, T điều khiển xe máy chạy phía sau cản địa, đánh lạc hướng người truy đuổi. Lê Thành L và Lê Trung H có ngồi nghe nhưng sau đó đã bỏ về không đi chung. Tuyết L và Nh sau khi ăn xong cũng đi về, cả 2 đều không biết nhóm của T bàn bạc đi cướp giật tài sản. Riêng Nguyễn Thị Thanh N, sau khi biết Nguyễn Ngọc T sẽ cùng cả nhóm đi cướp giật tài sản thì N cũng đồng ý đi cùng T để cản địa. Sau khi bàn bạc và phân công, G điều khiển xe máy hiệu Yamaha Exciter, biển số 59X2 - 674.74 chở T, S điều khiển xe máy hiệu Honda Wave, biển số 54V4 - 8925 chở L, Nguyễn Ngọc T điều khiển xe máy hiệu Honda Vario, biển số: 59S3 - 542.97 chở N, cả nhóm cùng chạy trên các tuyến đường từ quận Bình Thạnh về quận Gò Vấp, tìm người có tài sản để cướp giật. Khi đến đường số 20, Phường 5, quận Gò Vấp, cả nhóm phát hiện anh Cao Mạnh Gia B điều khiển xe gắn máy chở chị Lưu Thị Thanh H lưu thông cùng chiều, trên tay chị H có cầm 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A52 màu xanh nên bám theo. Khi anh B cho xe quay ngược lại, đến dừng trước nhà số: 193/10/9 đường số 20, Phường 5, quận Gò Vấp để chị H gọi điện thoại, thấy vậy nên G chở T, S chở L, Ngọc T chở N cũng cho xe chạy quay ngược lại để cướp giật điện thoại của chị H. Khi đến trước địa chỉ trên, G cho xe chạy ép sát bên trái xe của anh B, T ngồi sau, dùng tay giật điện thoại của chị H rồi Giỏi tăng ga tẩu thoát nhưng do xe bị chết máy nên không chạy được, T nhảy xuống xe chạy bộ tẩu thoát. Chị H tri hô và cùng quần chúng nhân dân bắt giữ được G cùng phương tiện gây án giao Công an Phường 5, quận Gò Vấp lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Riêng L, S, Ngọc T và N khi thấy G, T bị quần chúng nhân dân truy đuổi nên cùng nhau chạy thoát.

Qua truy xét trong các ngày 09/4/2022 và 12/4/2022, Cơ quan điều tra đã mời Nguyễn Minh T, Lê Thanh S, Huỳnh Ngọc Thiên L, Nguyễn Ngọc T và Nguyễn Thị Kim N làm việc. Tại Cơ quan điều tra, T, S, L, Ngọc T và N đã thừa nhận ngày 08/04/2022 có bàn bạc và cùng thực hiện hành vi cướp giật điện thoại di động của chị Lưu Thị Thanh H như đã nêu trên. Trong đó, T và G trực tiếp thực hiện hành vi cướp giật tài sản còn S, L, Ngọc T và N chạy xe phía sau với vai trò cản địa.

Sau khi giật được điện thoại di động của chị Lưu Thị Thanh H, T và Ngọc T đem bán cho Trương Công H1, (chủ tiệm điện thoại H…MOBILE) với giá 4.000.000 đồng. T đưa cho Ngọc T 1.000.000 đồng để trả nợ, 1.000.000 đồng T tiêu xài cá nhân, 2.000.000 đồng còn lại, sau đó T giao nộp cho Cơ quan điều tra. Khi đến bán điện thoại cho Trương Công H1, T và Ngọc T không nói nguồn gốc điện thoại, anh H1 không biết chiếc điện thoại trên do T và Ngọc T cướp giật mà có nên không có căn cứ để xử lý H1 về hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Đối với Phạm Thị Tuyết L, Trần Thị Thanh Nh, Lê Trung H và Lê Thành L sau khi ngồi ăn chung đã đi về, không tham gia vào việc cướp giật tài sản nên không có căn cứ để xử lý L, Nh, H và L.

Đối với nhóm 5 người nữ còn lại, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào xác định được sẽ mời làm việc, nếu có căn cứ sẽ đề nghị xử lý sau.

Quá trình điều tra còn xác định, Nguyễn Lê Tr (Sinh năm 2002, cư trú tại Quận 4) đã có quan hệ tình dục với Nguyễn Thị Thanh N từ năm 2018 đến tháng 3/2019, N phát hiện mình mang thai với Trung, khi đó N chưa đủ 16 tuổi. Qua xác minh, Cơ quan điều tra xác định, hành vi quan hệ tình dục với Nguyễn Thị Thanh N dẫn đến mang thai khi N chưa đủ 16 tuổi của đối tượng Nguyễn Lê Tr thực hiện tại nơi cư trú của Tr thuộc khu vực Quận 4. Cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp đã chuyển hồ sơ, tài liệu thu thập được cho Cơ quan điều tra Công an Quận 4 để điều tra làm rõ hành vi “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ:

- 01 điện thoại Samsung Galaxy A52 thu giữ của Trương Công H1. Qua xác minh, điện thoại nêu trên là của chị Lưu Thị Thanh H làm chủ sở hữu. Kết luận định giá tài sản số 135 ngày 30/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản xác định: Điện thoại nêu trên có giá trị 5.533.333 đồng. Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại trên cho chị H.

- 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter màu trắng xanh, biển số: 59X2-674.74, 01 cái áo thun màu trắng xanh thu giữ của Phan Văn G. Qua xác minh, xe máy trên do anh Trịnh Tiến Th làm chủ sở hữu. Tháng 4/2022, anh Th cho G mượn xe để đi làm. Việc G sử dụng xe máy trên để thực hiện hành vi cướp giật tài sản anh Th không biết. Cơ quan điều tra đã trả xe máy trên cho anh Th.

- 01 áo thun đen ngắn tay, có dòng chữ BLOCK Angle the Rivall; 01 quần sọt Jean màu bạc; 01 đôi dép màu hồng hiệu NIKE; số tiền 2.000.000đ (tiền bán điện thoại cướp giật được còn lại) thu giữ của Nguyễn Minh T.

- 01 điện thoại di động Iphone 6 Plus màu trắng, số seri: C38QHCZ9GRWM thu của Nguyễn Thị Thanh N. Qua xác minh, điện thoại trên của Nguyễn Thị Thanh N, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại trên cho Ngân.

- 01 xe máy hiệu Honda Wave, màu đen-xám, biển số: 54V4-8925, số khung: RLHHC12099Y140138, số máy: HC12E1720951. Qua xác minh, xe máy trên do ông Phạm Minh D, đứng tên chủ sở hữu. Làm việc với Cơ quan điều tra, ông D xác định đã bán xe trên vào năm 2017 cho một người không quen biết, có làm giấy tờ mua bán nhưng đã bị thất lạc. Làm việc với bà Lê Thị Kim L (mẹ ruột S) xác định đã mua xe tại Chợ Gò Vấp của một người không quen biết, không làm giấy tờ mua bán. Ngày 08/4/2022, bà cho S mượn xe đi chơi, bà không biết gì việc S đi cướp giật tài sản.

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung (không rõ đời) bể mặt lưng sau, màn hình không khởi động được; 01 điện thoại di động hiệu Realme màu đen không khởi động được thu giữ của Lê Thanh S (đã trả cho S).

- 01 xe máy hiệu Honda Vario màu vàng, biển số: 59S3-542.97, số khung: MH1JM5111MK749021, số máy: JM51E1748536; 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy tên Nguyễn Ngọc T (019689); 01 điện thoại di động hiệu OPPO A9 2020, số EMEI 1: 86002804158610, số EMEI 2: 86002804158602 thu giữ của Nguyễn Ngọc T. Qua xác minh, xe máy trên do Nguyễn Ngọc T làm chủ sở hữu. Ngày 08/4/2022, T đã sử dụng xe máy trên để thực hiện hành vi cướp giật tài sản.

Tại bản cáo trạng số 252/CTr-VKS, ngày 28/11/2022 Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố Nguyễn Minh T, Phan Văn G, Huỳnh Ngọc Thiên L, Nguyễn Ngọc T, Lê Thanh S và Nguyễn Thị Thanh N về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm a,d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015 đổi bổ sung năm 2017. Lê Thanh S về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm a,d,i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015 đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đề nghị: Áp dụng điểm a,d khỏan 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt Nguyễn Minh T từ 03 năm 6 tháng đến 04 năm tù.

Xử phạt Phan Văn G từ 03 năm 6 tháng đến 04 năm tù.

Xử phạt Huỳnh Ngọc Thiên L từ 03 năm 6 tháng đến 04 năm tù.

Xử phạt Nguyễn Ngọc T từ 03 năm đến 03 năm 6 tháng tù.

Áp dụng điểm a,d khỏan 2 Điều 171; điểm s,h khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh N từ 02 năm 6 tháng đến 03 năm tù. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm.

Áp dụng điểm a,d,i khỏan 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt Lê Thanh S từ 03 năm 6 tháng đến 04 năm tù.

Miễn phạt bổ sung cho các bị cáo;

Áp dụng Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017 và khoản 1, điểm a,c khoản 2, khỏan 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 xe máy hiệu Honda Vario màu vàng, biển số: 59S3 - 542.97, 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy tên Nguyễn Ngọc T và 01 (một) chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave, màu đen-xám mang biển số: 54V4 – 8925.

Tịch thu và tiêu hủy 01 áo thun màu trắng xanh của G, bị cáo Nguyễn Minh T áo thun đen ngắn tay có dòng chữ BLOCK Angel the Rivall, 01 quần sọt Jean màu bạc, 01 đôi dép màu hồng hiệu NIKE.

Trả lại cho ông Trương Công H1 số tiền 2.000.000 đồng thu giữ của Nguyễn Minh T.

Buộc bị cáo Nguyễn Minh T và Nguyễn Ngọc T bồi thường cho ông Trương Công H1 2.000.000 đồng.

Tại phiên tòa hôm nay khi nói lời sau cùng, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì Nguyễn Minh T, Phan Văn G, Huỳnh Ngọc Thiên L, Nguyễn Ngọc T, Lê Thanh S và Nguyễn Thị Thanh N đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, tang vật vụ án được thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

Đối chiếu với điều luật tương ứng do Bộ luật Hình sự quy định, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Nguyễn Minh T, Phan Văn G, Huỳnh Ngọc Thiên L, Nguyễn Ngọc T, Lê Thanh S và Nguyễn Thị Thanh N đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, giữa nơi công cộng đông người qua lại các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội bất chấp hậu quả xảy ra và bất chấp cả sự trừng trị của pháp luật. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật và Nhà nước bảo hộ, gây mất trật tự trị an xã hội và tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Chỉ vì muốn có tiền để tiêu xài cho bản thân các bị cáo đã thực hiện hành vi cướp giật tài sản của người khác rất táo bạo và liều lĩnh. Do các bị cáo chuẩn bị phương tiện, bàn bạc phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng người trong nhóm và sử dụng xe gắn máy là nguồn nguy hiểm cao độ thực hiện hành vi phạm tội nên Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố các bị cáo theo điểm a,d khỏan 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có cơ sở. Riêng bị cáo Lê Thanh S còn 01 tiền án về tội cướp giật tài sản chưa được xóa án nên lần phạm tội này là tái phạm nguy hiểm nên Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo thêm điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có cơ sở.

Đây là vụ án có đồng phạm mang tính tổ chức, các bị cáo chuẩn bị phương tiện, bàn bạc phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng người trong nhóm trong đó bị cáo T là người rủ rê các bị cáo khác và là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu mức án cao hơn các bị cáo khác, bị cáo G là người điều khiển xe tạo điều kiện cho bị cáo T thực hiện hành vi cướp giật do đó bị cáo cũng phải chịu mức hình phạt theo mức độ lỗi của mình. Đối với các bị cáo Huỳnh Ngọc Thiên L, Nguyễn Ngọc T, Lê Thanh S và Nguyễn Thị Thanh N tham gia với vai trò đồng phạm với vai trò cản địa cũng phải chịu trách nhiệm cho hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, phải có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi và tội lỗi của từng bị cáo đã thực hiện nhằm giúp các bị cáo sau này biết tôn trọng pháp luật và tôn trọng tài sản của người khác, học tập cải tạo lại mình trở thành người tốt hơn có ích cho xã hội, đồng thời cũng nhằm có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét một số tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, gia đình các bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, tài sản đã được thu hồi trả cho bị hại và bị hại đã xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo mà lẽ ra các bị cáo phải chịu. Đối với Bị cáo Nguyễn Thị Thanh N tham gia với vai trò đồng phạm, thuộc trường hợp với vai trò thứ yếu ít nghiêm trọng không ý thức được hành vi của mình, thiệt hại gây ra không lớn, bản thân hiện đang nuôi 02 con nhỏ (một trẻ mới hơn 2 tuổi và một trẻ vừa sinh hơn tháng tuổi) trình độ học vấn thấp (3/12) bị cáo nhận thức xã hội và pháp luật không cao còn hạn chế, thêm vào đó thiếu sự quan tâm giáo dục của gia đình. Tại phiên tòa hôm nay Viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án có thời gian thử thách, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, việc cho bị cáo được tại ngoại không gây nguy hiểm cho xã hội nên việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội là chưa cần thiết, nên tạo điều kiện cho bị cáo tự học tập cải tạo lại mình, tạo điều kiện cho bị cáo chăm sóc 02 con nhỏ, việc cho bị cáo được hưởng mức án có thời gian thử thách là phù hợp với tính nhân đạo của pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với người mới phạm tội lần đầu mà biết ăn năn hối cải.

Đối với bị cáo Lê Thanh S nhân thân xấu đã từng bị xử lý về hành vi “cướp giật tài sản” chưa được xóa án, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mà mình vừa được cải tạo xong với tính chất và mức độ nguy hiểm hơn, chứng tỏ thời gian cải tạo của bản án trước chưa đủ sức răn đe giáo dục cho bị cáo và lần phạm tội này là tái phạm nguy hiểm, là tình tiết định khung được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì Vậy cần thiết phải xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài để bị cáo sau này biết tôn trọng pháp luật và tôn trọng tài sản của người khác.

Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của từng bị cáo Hội đồng xét xử quyết định nên miễn phạt đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa hôm nay bà Lưu Thị Thanh H vắng mặt. Nhưng qua hồ sơ thể hiện bà đã nhận lại được chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A52. Hiện bà không còn thắc mắc khiếu nại gì và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, xin vắng mặt tại phiên tòa.

Đối với số tiền 4.000.000 đồng ông Trương Công H1 mua nhầm điện thoại của T và Ngọc T, tại phiên tòa hôm nay ông H1 vắng mặt nhưng qua hồ sơ ông yêu cầu bị cáo T và Ngọc T trả lại cho ông số tiền nêu trên. Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đồng ý trả theo yêu cầu của ông H1. Hội đồng xét xử xét thấy đây là yêu cầu và ý chí tự nguyện và không trái pháp luật nên ghi nhận.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại Samsung Galaxy A52 thu giữ của Trương Công H1. Qua xác minh là của bà Lưu Thị Thanh H làm chủ sở hữu, Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại trên cho bà H, Hội đồng xét xử nhận thấy việc trả lại tài sản đó là đúng quy định của pháp luật và không ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên tại phiên tòa hôm nay không đưa ra xem xét lại.

Đối với 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter màu trắng xanh, biển số: 59X2-674.74, thu giữ của Phan Văn G. Qua xác minh, xe máy trên do anh Trịnh Tiến Th làm chủ sở hữu. Vào Tháng 4/2022, anh Th cho G mượn xe để đi làm. Anh Th không biết G sử dụng xe máy trên để thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Cơ quan điều tra đã trả xe máy trên cho anh Th, Hội đồng xét xử nhận thấy việc trả lại tài sản đó là đúng quy định của pháp luật và không ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên tại phiên tòa hôm nay không đưa ra xem xét lại.

Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 6 Plus màu trắng, số seri: C38QHCZ9GRWM thu của Nguyễn Thị Thanh N. Qua xác minh, điện thoại trên của Nguyễn Thị Thanh N, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại trên cho bị cáo N, Hội đồng xét xử nhận thấy việc trả lại tài sản đó là đúng quy định của pháp luật và không ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên tại phiên tòa hôm nay không đưa ra xem xét lại.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung (không rõ đời) bể mặt lưng sau, màn hình không khởi động được; 01 điện thoại di động hiệu Realme màu đen không khởi động được thu giữ của Lê Thanh S, Cơ quan điều tra đã trả cho bị cáo Lê Thanh S. Hội đồng xét xử nhận thấy việc trả lại tài sản đó là đúng quy định của pháp luật và không ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên tại phiên tòa hôm nay không đưa ra xem xét lại.

Đối với 01 xe máy hiệu Honda Wave, màu đen-xám, biển số: 54V4-8925. Qua xác minh do ông Phạm Minh D, đứng tên chủ sở hữu. Tại Cơ quan điều tra, ông D xác định đã bán xe trên vào năm 2017 cho một người không quen biết, có làm giấy tờ mua bán nhưng đã bị thất lạc. Làm việc với bà Lê Thị Kim L (mẹ ruột S) xác định đã mua xe tại Chợ Gò Vấp của một người không quen biết, không làm giấy tờ mua bán. Ngày 08/4/2022 bà cho S mượn xe đi chơi, bà không biết gì việc S đi cướp giật tài sản. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sỡ hữu nhưng đến nay không có ai đến nhận, Hội đồng xét xử nhận thấy xe không có nguồn gốc rõ ràng nên quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với 01 chiếc xe máy hiệu Honda Vario màu vàng biển số: 59S3-542.97 qua xác minh, xe do Nguyễn Ngọc T làm chủ sở hữu, 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy tên Nguyễn Ngọc T (019689) đã sử dụng để thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO A9 2020 thu giữ của Nguyễn Ngọc T là tài sản của T không liên quan đến vụ án. Cơ quan điều tra đã trả lại cho T, Hội đồng xét xử nhận thấy việc trả lại tài sản đó là đúng quy định của pháp luật và không ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên tại phiên tòa hôm nay không đưa ra xem xét lại.

Đối với 01 áo thun đen ngắn tay, có dòng chữ BLOCK Angle the Rivall; 01 quần sọt Jean màu bạc; 01 đôi dép màu hồng hiệu NIKE là tài sản của Nguyễn Minh T Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo T.

Đối với 01 áo thun màu trắng xanh là tài sản riêng của G Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo G.

Đối với số tiền 2.000.000 đồng (tiền bán điện thoại cướp giật được còn lại) thu giữ của Nguyễn Minh T. Xét thấy đây là số tiền bị cáo có được từ việc cướp giật chiếc điện thoại của bà H bán cho ông Trương Công H1, ông H1 có yêu cầu nhận lại số tiền mua nhầm điện thoại Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho ông Trương Công H1 số tiền trên.

Đối với số tiền 4.000.000 đồng ông Trương Công H1 yêu cầu bồi thường, ngoài số tiền 2.000.000 đồng Hội đồng xét xử đã tuyên trả cho ông còn lại 2.000.000 đồng Hội đồng xét xử buộc bị cáo Nguyễn Minh T và bị cáo Nguyễn Ngọc T phải bồi thường cho ông H1 ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Đối với hành vi Nguyễn Lê Tr đã có quan hệ tình dục với Nguyễn Thị Thanh N từ năm 2018 đến Tháng 3/2019, N phát hiện mình mang thai với Tr, khi đó N chưa đủ 16 tuổi. Qua xác minh, Cơ quan điều tra xác định, hành vi quan hệ tình dục với Nguyễn Thị Thanh N dẫn đến mang thai khi N chưa đủ 16 tuổi của đối tượng Nguyễn Lê Tr thực hiện tại nơi cư trú của Tr thuộc khu vực Quận 4. Cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp đã chuyển hồ sơ, tài liệu thu thập được cho Cơ quan điều tra Công an Quận 4 để điều tra làm rõ hành vi “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo thẩm quyền là có cơ sở.

Đối với Phạm Thị Tuyết L, Trần Thị Thanh Nh, Lê Trung H và Lê Thành L sau khi ngồi ăn chung đã đi về, không tham gia vào việc cướp giật tài sản nên không có căn cứ để xử lý L, Nh, H và L là có cơ sở.

Đối với nhóm 5 người nữ còn lại, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào xác định được sẽ mời làm việc, nếu có căn cứ sẽ đề nghị xử lý sau.

Về án phí các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh T, Phan Văn G, Huỳnh Ngọc Thiên L, Nguyễn Ngọc T, Lê Thanh S và Nguyễn Thị Thanh N phạm tội “Cướp giật tài sản” .

Căn cứ điểm a,d khỏan 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 03 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/4/2022.

Xử phạt bị cáo Phan Văn G 03 (ba) năm 3 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 08/4/2022.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc Thiên L 03 (ba) năm 3 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/4/2022.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 13/4/2022.

Căn cứ điểm a,d khỏan 2 Điều 171; điểm h,s,i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh N 02 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù. Nhưng cho hưởng án treo, Thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án sẽ ra quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án sẽ buộc bị cáo chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp hình phạt với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Căn cứ điểm a,d,i khỏan 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Lê Thanh S 03 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 09/4/2022.

Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017 và khoản 1, điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) xe máy hiệu Honda Vario màu vàng, biển số: 59S3-542.97, số khung: MH1JM5111MK749021, số máy: JM51E1748536; 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy tên Nguyễn Ngọc T (019689); 01 (một) chiếc xe gắn máy hiệu Honda Wave, màu đen-xám mang biển số: 54V4-8925 có số khung: RLHHC12099Y140138, số máy: HC12E1720951.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Minh T 01 (một) áo thun đen ngắn tay, có dòng chữ BLOCK Angle the Rivall; 01 (một) quần sọt Jean màu bạc; 01 (một) đôi dép màu hồng hiệu NIKE.

- Trả lại cho bị cáo Phan Văn G 01 (một) áo thun màu trắng xanh.

- Trả lại cho ông Trương Công H1 số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng.

(Theo phiếu nhập kho vật chứng 164/PNK, ngày 09/11/2022 của Công an quận Gò Vấp).

Buộc bị cáo Nguyễn Minh T và Nguyễn Ngọc T bồi thường cho ông Trương Công H1 số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. Cụ thể Nguyễn Minh T bồi thường 1.000.000 (một triệu) đồng và Nguyễn Ngọc T bồi thường 1.000.000 (một triệu) đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Dân sự;

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật

, nếu bị cá o Nguyễn Minh T và Nguyễn Ngọc T không bồi thường số tiền nêu trên cho ông Trương Công Hải thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án. Lãi suất phát sinh do chậm thi hành được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Việc thi hành án được thực hiện tại Cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng. Riêng bị cáo Nguyễn Minh T và Nguyễn Ngọc T mỗi bị cáo phải chịu thêm án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.

Các bị cáo, có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ