vanban.org

Bản án 30/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 13/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lương Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 14-12-2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

`` +
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN LÃNG
TỈNH LẠNG SƠN
Bản án số: 30/2023/HS-ST
Ngày 13-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Duy Pha

Bà Chu Thị Bời

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hồng Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Chu Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2023, đối với bị cáo:

Lương Văn D; tên gọi khác: Không có, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1983 tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi thường trú: Thôn V, xã B, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi ở hiện nay: Thôn U, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Quý A, sinh năm 1945 và bà Lương Thị I, sinh năm 1953 (đã chết); có vợ Lộc Thị X và 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án: Không có, tiền sự: Không có; nhân thân: Đã bị kết án đã được xoá án tích tại Bản án số 86/2006/HSST ngày 07-9-2006 của Toà án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 03 (ba) năm về tội “Cố ý gây thương tích”, chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị tạm giữ từ ngày 14-12-2022, tạm giam ngày 17-12-2022 đến nay; có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người chứng kiến: Anh Trần Sỹ Q; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 14-12-2022, Lương Văn D, sinh ngày 20-10-1983, nơi thường trú thôn V, xã B, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, một mình bắt xe khách từ thôn U, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn ra khu vực xã M, huyện V, tỉnh Lạng Sơn mục đích mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đến ngã 3 P, Lương Văn D xuống xe một mình đi bộ đến thôn E, xã M, huyện V, tỉnh Lạng Sơn mua 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) ma túy với một người đàn ông khoảng 50 tuổi (Lương Văn D không biết lai lịch của người này), được 02 gói giấy màu trắng chứa ma túy. Lương Văn D cất số ma túy mua được vào trong túi áo khoác đằng trước đang mặc trên người rồi bắt xe khách về nhà. Khi đến khu vực ngã ba thôn U, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn Lương Văn D xuống xe, đi bộ về hướng phòng trọ thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Lương Văn D đã chấp hành, tự giác giao nộp tang vật và khai nhận hành vi phạm tội của bản thân. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, đưa Lương Văn D cùng toàn bộ tang vật về trụ sở Công an xã Tân Thanh lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong tang vật theo quy định của pháp luật.

Tang vật thu giữ gồm 02 (hai) gói giấy màu trắng, trong mỗi gói giấy đều chứa chất bột màu trắng nghi là chất ma túy Heroine được niêm phong trong 01 phong bì thư dán kín ký hiệu bằng chữ viết tay “QT Lương Văn D”.

Tại bản Kết luận giám định số 74/KL-KTHS ngày 16-12-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận:

Chất bột màu trắng gửi giám định đều là chất ma túy Heroin, có tổng khối lượng 0,110 gam (đã trừ bì).

Tại cơ quan điều tra Lương Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của bản thân phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ.

Tại bản Cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 20 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Lương Văn D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa bị cáo Lương Văn D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; do bị cáo nghiện ma tuý nên đã mua ma tuý về sử dụng cho bản thân.

Tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên nội dung Cáo trạng truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lương Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đề nghị xử phạt bị cáo Lương Văn D từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, do bị cáo không có tài sản riêng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì có chữ viết tay “QT Lương Văn D” được dán kín, niêm phong bằng: Các dấu của Công an xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng; chữ ký cùng tên của các thành phần tham gia niêm phong tại phần giáp lai cũ; chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh Hà, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới, bên trong có 01 gói giấy đựng 0,092 gam Heroine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và 02 vỏ gói giấy cũ.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, Kiểm sát viên không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về trình tự, thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đã được tống đạt các văn bản quyết định tố tụng và thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo đúng trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện đều có giá trị pháp lý, đúng theo quy định của pháp luật.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà vắng mặt người chứng kiến. Xét thấy người chứng kiến đã có lời khai trong hồ sơ vụ án; do vậy việc vắng mặt người chứng kiến không ảnh hưởng đến việc xét xử, căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Lương Văn D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai người chứng kiến và phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 14-12-2022; Kết luận giám định số 74/KL-KTHS ngày 16-12-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn, ngoài ra phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ xác định: Khoảng 08 giờ ngày 14-12-2022, Lương Văn D, sinh ngày 20-10-1983, nơi thường trú thôn V, xã B, huyện V, tỉnh Lạng Sơn có hành vi tàng trữ trái phép 0,110gam ma túy Heroine nhằm mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn và Đồn Biên phòng Tân Thanh đang làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang. Hành vi của Lương Văn D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lương Văn D đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, theo như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng, đã xâm phạm quyền độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu cho xã hội, là một trong các nguyên nhân gây phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và có đủ năng lực nhận thức hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp và cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án đã được xoá án tích nên xác định bị cáo là người có nhân không tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn; ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã thực hiện; bị cáo có bố là ông Lương Quý A được tặng huy chương kháng chiến hạng nhất do đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung là hình phạt tiền từ 5.000.000 (năm triệu) đồng đến 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng. Tuy nhiên căn cứ vào biên bản xác minh ngày 04-01-2023 tại Uỷ ban nhân xã Bắc Hùng, huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn và phần xét hỏi công khai tại phiên tòa, thấy rằng bị cáo có đứng tên quyền sử dụng đất nhưng những diện tích đất này vợ bị cáo đang canh tác, bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì có chữ viết tay “QT Lương Văn D” được dán kín, niêm phong bằng: Các dấu của Công an xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng; chữ ký cùng tên của các thành phần tham gia niêm phong tại phần giáp lai cũ; chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh Hà, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật Hình sự tại phần giáp lai mới, bên trong có 01 gói giấy đựng 0,092 gam Heroine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và 02 vỏ gói giấy cũ là vật cấm tàng trữ, lưu hành, không có giá trị và không sử dụng được theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với người đàn ông khoảng 50 tuổi bán ma túy cho Lương Văn D ngày 14-12-2022 tại khu vực thôn E, xã M, huyện V, tỉnh Lạng Sơn cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa đủ căn cứ để xử lý đối tượng. Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra xác minh làm rõ khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt, về việc xử lý vật chứng và giải quyết toàn bộ vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; Điều 331; 332; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt

- Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lương Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 14-12-2022.

- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Lương Văn D.

3. Về xử lý vật chứng

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì có chữ viết tay “QT Lương Văn D” được dán kín, niêm phong bằng: Các dấu của Công an xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng; chữ ký cùng tên của các thành phần tham gia niêm phong tại phần giáp lai cũ; chữ ký cùng tên của giám định viên Hoàng Mạnh Hà, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật Hình sự tại phần giáp lai mới, bên trong có 01 gói giấy đựng 0,092 gam Heroine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và 02 vỏ gói giấy cũ.

(Các vật chứng trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn. Chi tiết vật chứng được ghi trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21 tháng 3 năm 2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Lương Văn D phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ