- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Huỳnh Châu Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huỳnh C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2023/HS-ST Ngày: 01-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Doãn Thị Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Ánh Sáng
2. Bà Nguyễn Thị Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Diễm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Huyền – Kiểm sát viên.
Ngày 01/3/2023, tại trụ sở Tòa án nhân huyeän Long Thành, xeùt xöû sô thaåm công khai vuï aùn hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2023/QĐXXST-HS ngày 14/02/2023, đối với bị cáo: .
Nguyễn Huỳnh C, Giới tính: Nam; Sinh năm 1988, tại Đ.
Nơi đăng ký thường trú: ấp 8, xã A, huyện L, tỉnh Đ.
Nơi sinh sống: ấp 8, xã A, huyện L, tỉnh Đ.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 01/12;
Con ông Nguyễn Thanh Q, sinh năm 1964 và bà Huỳnh Thị S, sinh năm 1970.
Bị cáo chưa có vợ con
Tiền án: Không
Tiền sự: Ngày 14/10/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ ra Quyết định số 35/2022/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/02/2023
Bị cáo có mặt
Người bị hại: Ông Nguyễn Xuân N, sinh năm 1989 (vắng mặt)
Địa chỉ nơi ở hiện tại: phường T, Tp. B, tỉnh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 ngày 27/8/2022, bị cáo đi bộ ngang qua đường Lô Hổ ở ấp 8, xã A, huyện L thì thấy 01 xe mô tô biển số 37E1-258.54, hiệu Exciter, màu xanh trắng của anh Nguyễn Xuân N, sinh năm 1989, ngụ tại phường T, Tp.B đang dựng ở khu vực vườn tràm, có chìa khóa xe gắn ở ổ khóa. Sau khi quan sát thấy vị trí dừng xe mô tô cách vị trí anh N cùng với một số người đang ngồi câu cá khoảng 10 m nên bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp xem mô tô trên làm phương tiện đi lại. Để thực hiện ý định, bị cáo giả vờ xuống xem câu cá được khoảng 10 phút, quan sát thấy không ai chú ý, bị cáo lén lút đến gần xe mô tô trên đề máy rồi điều khiển xe đến đoạn đường thuộc khu vực chùa Long Phước ở ấp 7, xã A dừng xe lại tháo biển số ném bên đường. Sau đó, bị cáo điều khiển xe chạy đến nhà chị Trần Thị Diễm T, sinh năm 1988 ngụ tại khu 3, ấp 7, xã A nhờ gửi xe rồi đi bộ về nhà. Ngày sau khi sự việc, anh N đến Công an xã A để trình báo sự việc. Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo đến Công an xã A đến đầu thú về hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định tài sản trong tố tụng hình sự huyện L số 161/KL-HĐĐGTS ngày 30/8/2022 kết luận 01 xe Exciter mô tô biển số 37E1-258.54 màu xanh trắng trị giá 11.000.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số: 222/CT-VKSLT ngày 09/01/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Đ truy tố bị cáo để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Đ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Huỳnh C và xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 14 tháng tù.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại – ông Nguyễn Xuân N đã nhận lại tài sản không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên đề nghị không xem xét.
Về vật chứng và xử lý vật chứng:
01 xe mô tô hiệu Exciter màu xanh Trắng (không có biển số) Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại cho anh N nên đề nghị không xem xét.
01 biển số 37E1-258.54, không thu hồi được nên đề nghị không xem xét.
01 đoạn camera ghi lại hình ảnh phạm tội của bị cáo lưu tại hồ sơ.
Ý kiến của bị cáo: Bị cáo thống nhất với bản cáo trạng và truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện L.
Bị cáo nói lời nói sau cùng:
Bị cáo kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt. Xét họ đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, không có yêu cầu bồi thường gì thêm và sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử và đại diện Viện kiểm sát đề nghị vẫn tiến hành xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, các chứng cứ khác được thu thập và quá trình tranh tụng tại phiên toà có đủ cơ sở để xác định:
Vào khoảng 12 giờ ngày 27/8/2022, tại đường Lô Hổ thuộc ấp 8, xã A, huyện L, bị cáo có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe mô tô biển số 37E1-258.54, hiệu Exciter, màu xanh Trắng có trị giá 1.000.000 đồng đang dựng gần nơi câu cá của anh Nguyễn Xuân N sinh năm 1989, ngụ phường T, Tp.B.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, thuộc trường hợp phạm tội lần đầu và ít nghiêm trọng và bị cáo ra đầu thú. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân: Cần thiết phải áp dụng hình phạt tù để cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô hiệu Exciter màu xanh Trắng (không có biển số) Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại cho bị hại nên không xem xét.
01 biển số 37E1-258.54, không thu hồi được nên không xem xét.
01 đoạn camera ghi lại hình ảnh phạm tội của bị cáo lưu tại hồ sơ.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại – ông Nguyễn Xuân N đã nhận lại tài sản không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huỳnh C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1, khoản 2, Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sữa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Nguyễn Huỳnh C 01 năm tù. Thời hạn tạm giam 01 ngày được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Huỳnh C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo - Nguyễn Huỳnh C được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại- Nguyễn Xuân N được quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo, Bị hại; - VKSND huyện Long Thành; - TAND,VKSND tỉnh Đồng Nai; - THA dân sự huyện Long Thành; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Long Thành; - Cơ quan THA HS có thẩm quyền; - Nhà tạm giữ công an huyện Long Thành - Sở tư pháp; - Lưu HS, VP. Các hội thẩm nhân dân toà | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Doãn Thị Hằng Thẩm phán- Chủ toạ phiên |