- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Việt H - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Việt H phạm tội Vận chuyển hàng cấm.
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự Căn cứ các điểm a; Điều 51 Bộ luật Hình sự Căn cứ các điểm a; Điều 191 Bộ luật Hình sự Căn cứ các điểm a
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2023/HS-ST Ngày 10-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Hoàng Thế Khuynh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Mật;
Bà Ngô Thị Thu Huyền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Đông – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nông Ngọc Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2023/TLHS-ST ngày 14 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2023, đối với bị cáo:
Trương Việt H, sinh ngày 05 tháng 9 năm 2001, tại huyện H, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trương Văn T1, con bà Lâm Thị T2; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự và chưa bị xử lý vi phạm hành chính; bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 14/01/2023, đến ngày 20/02/2023 được thay thế biện pháp bảo lĩnh, đến nay; có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Trương Văn T1, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
2. Bà Lâm Thị T2, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu mua pháo hoa nổ về sử dụng trong dịp Tết Nguyên đán nên buổi trưa ngày 13/01/2023, Trương Việt H sử dụng điện thoại di động để truy cập FaceBook tìm kiếm mua pháo. Qua tìm kiếm Trương Việt H thấy có một tài khoản (Hoàng không nhớ tên cụ thể) đăng bài viết bán pháo hoa nổ kèm theo số điện thoại 0372.789.*** để liên hệ. Sau đó Trương Việt H đã sử dụng điện thoại di động nhãn hiện NOKIA gắn thẻ sim số 0399.630.*** của mình liên lạc với số điện thoại có trên bài viết hỏi mua pháo hoa nổ thì phía bên kia có một người đàn ông trả lời là có sẵn pháo hoa nổ bán, Trương Việt H hỏi mua 10 hộp pháo hoa nổ (loại 36 ống/hộp) thì được người bán báo giá 400.000 đồng/hộp, Trương Việt H đồng ý rồi người đó hẹn gặp vào đầu giờ chiều ngày hôm sau tại khu vực đỉnh Đèo B, thuộc địa phận huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Khoảng hơn 12 giờ ngày 14/01/2023, Trương Việt H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 12A-157.61 nhãn hiệu HYUNDAI Grand i10, màu sơn trắng (thuộc sở hữu của ông Trương Văn T1 và bà Lâm Thị T2), Trương Việt H mang theo số tiền khoảng 4.100.000đ (bốn triệu một trăm nghìn đồng) đi từ nhà đến huyện C để mua pháo. Khi đến thị trấn Đ, huyện Chỉ Lăng, Trương Việt H di chuyển theo đường Quốc lộ 279 đi lên Đèo B, khi đi hết Đèo B, Trương Việt H tiếp tục đi khoảng 02 km theo chỉ dẫn qua điện thoại của người bán thì thấy một người đàn ông khoảng 30 tuổi, mặc áo khoác màu xanh, đội mũ bảo hiểm, đeo khẩu trang đang đứng gần một chiếc xe mô tô ở lề đường, xác định người đàn ông này đúng là người đã liên lạc để giao dịch mua pháo nên Trương Việt H dừng xe để hỏi. Khi gặp nhau, người đàn ông nói với Trương Việt H là pháo được cất giấu ở bụi cây ven đường gần đó và chỉ cho Trương Việt H biết. Trương Việt H đến vị trí bụi cây xem thấy có 01 (một) bao tải dứa màu xanh nên mang ra xe ô tô để kiểm tra thì thấy bên trong bao tải có chứa 01 (một) hộp pháo được bọc bằng túi nilon màu hồng và 01 (một) hộp bìa carton màu cam được bọc bằng túi nilon màu trắng, Trương Việt H tiếp tục mở hộp bìa carton để kiểm tra thì thấy bên trong có chứa 06 (sáu) hộp pháo (tổng cộng là 07 hộp). Do chỉ có 07 (bảy) hộp pháo nên sau khi kiểm tra xong, Trương Việt H quay lại chỗ người đàn ông và trả số tiền 2.800.000 đồng (hai triệu tám trăm nghìn đồng), rồi cất pháo vào cốp xe và điều khiển xe ô tô vận chuyển pháo đi về, số tiền còn lại trên đường về Trương Việt H đã sử dụng để mua nhiên liệu xe (xăng) hết. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến Km 160+500 Quốc lộ 279 thuộc địa phận thôn L, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn thì bị tổ công tác của Công an huyện Chi Lăng phát hiện, kiểm tra bắt quả tang. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Chi Lăng đã tiến hành khám xét chỗ ở của Trương Việt H nhưng không phát hiện và thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại biên bản kiểm đếm và xác định trọng lượng pháo ngày 14/01/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chi Lăng xác định số lượng, chủng loại cụ thể gồm: 07 (bảy) khối hộp vỏ giấy đa màu sắc, kích thước mỗi khối hộp là 15,5cm x 15,5cm x 14cm, trong mỗi khối hộp có 36 (ba mươi sáu) lỗ hình trụ tròn bằng giấy. Tổng trọng lượng của 07 (bảy) khối hộp là 10,6kg (mười phảy sáu kilogam).
Tại bản Kết luận giám định số 208/KL-KTHS ngày 16/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Mẫu vật gửi giám định đều là pháo, loại pháo hoa nổ (đều có chứa thuốc pháo, khi đốt đều gây ra tiếng nổ).
Đồ vật, vật chứng thu giữ, tạm giữ; xử lý vật chứng:
- 07 (bảy) hộp pháo hoa nổ có cùng kích thước là 15,5cm x 15,5cm x 14,5cm, mỗi hộp có 36 ống hình trụ tròn được liên kết với nhau;
- 01 (một) bao tải dứa màu xanh đã bị rách;
- 01 (một) túi nilon màu hồng đã bị rách;
- 01 (một) túi nilon màu trắng đã bị rách;
- 01 (một) hộp bìa carton màu cam có in chữ nước ngoài, kích thước 47cm x 32cm x 17cm;
- 01 (một) xe ô tô biển kiểm soát: 12A-157.61 nhãn hiệu HYUNDAI Grand i10 màu sơn trắng, đã qua sử dụng.
- 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 12A-157.61 số 12000685 mang tên Đinh Văn H2, địa chỉ: D, S, H, Lạng Sơn;
- 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số DA1125847 đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát: 12A-157.61;
- 01 (một) giấy phép lái xe ô tô số 24024003355 mang tên Trương Việt H;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, đã qua sử dụng, IMEII: 352182864368931, IMEI2: 352182866368939, có gắn thẻ sim số 0399.630.390.
Đối với vật chứng là 07 (bảy) hộp pháo hoa nổ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chi Lăng đã ra Quyết định xử lý vật chứng và tiến hành xử lý bằng hình thức tiêu hủy.
Đối với các vật chứng gồm: 01 (một) xe ô tô biển kiểm soát 12A-157.61 nhãn hiệu HYUNDAI Grand i10 màu sơn trắng (xe cũ đã qua sử dụng); 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 12A-157.61 số 12000685 mang tên Đinh Văn H2; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số DA1125847 đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 12A-157.61; 01 (một) giấy phép lái xe ô tô số 240204003355 mang tên Trương Việt H. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chi Lăng đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp theo quy định.
Đối với các vật chứng còn lại chưa xử lý, đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện C theo quy định.
Cáo trạng số: 29/CT-VKS ngày 12 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố: Bị cáo Trương Việt H, về tội: Vận chuyển hàng cấm, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa bị cáo Trương Việt H đã khai rõ toàn bộ hành vi vận chuyển hàng cấm như đã khai tại Cơ quan điều tra.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trương Văn T1 và bà Lâm Thị T2 xác nhận đã mua chiếc xe ô tô biển kiểm soát 12A-157.61 nhãn hiệu HYUNDAI Grand i10 màu sơn trắng, giao cho Trương Việt H sử dụng nhưng không biết việc Trương Việt H sử dụng xe để vận chuyển pháo. Cơ quan điều tra đã trả xe và các giấy tờ liên quan cho chủ sở hữu, ông Trương Văn T1, bà Lâm Thị T2 không có yêu cầu, đề nghị gì.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, đánh giá về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Việt H phạm tội Vận chuyển hàng cấm.
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 50, 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Việt H từ 09 tháng đến 01 năm tù cho hưởng án treo có ấn định thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bao tải dứa màu xanh đã bị rách; 01 (một) túi nilon màu hồng đã bị rách; 01 (một) túi nilon màu trắng đã bị rách; 01 (một) thùng carton màu cam có in chữ nước ngoài, kích thước 47cm x 32cm x 17cm. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, đã qua sử dụng, IMEII: 352182864368931, IMEI2: 352182866368939, có gắn thẻ sim số 0399.630.***.
Phần tranh luận: Bị cáo Trương Việt H nhận tội, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tuy nhiên việc Cơ quan điều tra xử lý vật chứng trả chiếc xe ô tô là phương tiện vận chuyển hàng cấm là chưa phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
[2] Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bà Lâm Thị T2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra và có đơn xin xét xử vắng mặt, việc vắng mặt đó không ảnh hưởng đến kết quả xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo Trương Việt H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, ngày 14/01/2023; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Hồi 13 giờ 30 phút ngày 14/01/2023, tại Km 160 + 500 Quốc lộ 279, thuộc địa phận thôn L, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, Tổ công tác Công an huyện Chi Lăng kiểm tra xe ô tô biển kiểm soát 12A-157.61 do Trương Việt H điều khiển lưu thông theo hướng huyện V đi huyện C, phát hiện bắt quả tang Trương Việt H có hành vi vận chuyển trái phép 10,6kg (mười phảy sáu kilogam) pháo hoa nổ, với mục đích để sử dụng.
[4] Về nguồn gốc số pháo hoa nổ, xác định theo lời khai của bị cáo Trương Việt H, ngày 14/01/2023 Trương Việt H đã mua với một người đàn ông (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) tại khu vực cách Đèo B khoảng 2 km, thuộc huyện C, do không có thông tin nên Cơ quan điều tra không thể điều tra, xác minh đối với người đàn ông đã bán pháo hoa nổ cho Trương Việt H.
[5] Hành vi của bị cáo Trương Việt H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các loại hàng hóa đặc biệt, hành vi đó gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hôi tại địa phương. Bị cáo Trương Việt H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do vậy bị cáo có đủ khả năng để nhận thức việc vận chuyển pháo hoa nổ là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích đem về sử dụng thỏa mãn ham muốn của bản thân, bị cáo cố ý thực hiện hành vi vận chuyển pháo hoa nổ với số lượng đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã vi phạm các quy định như: Chỉ thị 406/CT-TTg ngày 08/8/1994 của Thủ tướng chính phủ về việc cấm vận chuyển, buôn bán và đốt pháo; Thông tư liên tịch số 06/2008/TTLT/BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 25/12/2008; Nghị định số 137/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính phủ về quản lý, sử dụng pháo. Vậy đã có đủ các căn cứ để kết luận bị cáo Trương Việt H phạm tội Vận chuyển hàng cấm tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
[6] Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự, có cân nhắc đến tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bị cáo Trương Việt H là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Vê tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo Trương Việt H được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Xét thấy bị cáo Trương Việt H có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, không có tiền án, tiền sự, trước khi phạm tội chấp hành tốt chính sách pháp luật và các quy định tại địa phương. Bị cáo có đủ điều kiện cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự, được hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên việc cách ly bị cáo ra ngoài xã hội là không cần thiết mà để bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ cho bị cáo tu dưỡng, rèn luyện bản thân, sớm trở thành công dân tốt, biết tôn trọng và tuân thủ pháp luật. Việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời cũng thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật. Về hình phạt bổ sung bị cáo Trương Việt H không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành án, do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy các vỏ bao bì, thùng carton là công cụ sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng. Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, đã qua sử dụng, IMEII: 352182864368931, IMEI2: 352182866368939, có gắn thẻ sim số 0399.630.***, vì là công cụ phạm tội.
[9] Về án phí: Bị cáo Trương Việt H là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
[10] Cáo trạng số 29/CT-VKSCL ngày 12 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn, truy tố bị cáo Trương Việt H theo tội danh và điều khoản trong Bộ luật Hình sự như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị về tội danh, về hình phạt đối với bị cáo và xử lý vật chứng là có căn cứ.
[11] Đối với việc ông Trương Văn T1, bà Lâm Thị T2 giao xe cho Trương Việt H sử dụng, không biết Trương Việt H dùng xe để chở hàng cấm nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là đúng quy định của pháp luật.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191, các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; các khoản 1, 2, 5 Điều 65; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự
Căn cứ các điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Việt H phạm tội Vận chuyển hàng cấm.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trương Việt H 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 10 tháng 5 năm 2023. Giao bị cáo Trương Việt H cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục người bị kết án.
Bị cáo Trương Việt H phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
3. Về xử lý vật chứng:
3.1 Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) bao tải dứa màu xanh đã bị rách; 01 (một) túi nilon màu hồng đã bị rách; 01 (một) túi nilon màu trắng đã bị rách; 01 (một) hộp bìa carton màu cam có in chữ nước ngoài, kích thước 47cm x 32cm x 17cm;
3.2 Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, đã qua sử dụng, IMEII: 352182864368931, IMEI2: 352182866368939, có gắn thẻ sim số 0399.630.***.
(Vật chứng lưu giữ tại kho Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Công an huyện Chi Lăng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, ngày 14/4/2023).
4. Về án phí: Bị cáo Trương Việt H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn. - VKSND tỉnh Lạng Sơn. - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn. - VKSND huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Chi Lăng. - Cơ quan THAHS Công an huyện Chi Lăng. - Chi cục THADS huyện C. - UBND xã M, huyện H. - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Thế Khuynh |