- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mai THị H- Đỗ Văn N"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị Hiền, cho chị Hiền được ly hôn anh Đỗ Văn Nguyên.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2023/HNGĐ-ST Ngày: 24-5-2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Quản
2. Ông Nguyễn Văn Hạnh
- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Thủy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nga Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn tham gia phiên tòa:
Bà: Trịnh Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nga Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 30/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2023/QĐXX-ST, ngày 03 tháng 4 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 27, ngày 27 tháng 4 năm 2023, giữa:
1/ Nguyên đơn: Chị Mai Thị Hiền - Sinh năm 1985
Địa chỉ: Tiểu khu Nga Lộ 2, thị trấn Nga Sơn, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa (có mặt)
2/ Bị đơn: Anh Đỗ Văn Nguyên - Sinh năm 1979
Địa chỉ: Thôn Hội Kê, xã Nga Phượng, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 31/01/2023 và bản tự khai, nguyên đơn chị Mai Thị Hiền trình bày: chị và anh Đỗ Văn Nguyên kết hôn với nhau vào ngày 15/6/2004, trên cơ sở tự nguyện, được UBND thị trấn Nga Sơn, (xã Nga Mỹ cũ), huyện Nga Sơn cấp đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân: do tính tình vợ chồng không hòa hợp, cãi vã, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 12/2022 đến nay. Trong thời gian sống ly thân chị và anh Nguyên không còn quan tâm gì đến nhau. Chị xét thấy cuộc sống chung vợ chồng không thể tiếp tục duy trì, chị đề nghị được ly hôn anh Nguyên theo quy định; về con: vợ chồng có 03 con chung là Đỗ Thị Thu Hồng, sinh ngày 16/5/2005; Đỗ Hồng Anh, sinh ngày 14/6/2011; Đỗ Gia Bảo, sinh ngày 18/4/2013. Sau ly hôn, chị đề nghị trực tiếp nuôi 02 con là cháu Hồng Anh và Gia Bảo; giao cháu Hồng cho anh Nguyên trực tiếp nuôi dưỡng; anh Nguyên có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Gia Bảo và cháu Hồng Anh cùng chị là 1.000.000đ/tháng cho đến khi các cháu trưởng thành; Về tài sản và nợ chung: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Đỗ Văn Nguyên trình bày: Về hôn nhân: anh thống nhất như ý kiến chị Hiền về ngày tháng năm kết hôn, cơ sở việc kết hôn. Về nguyên nhân mâu thuẫn: từ mùng 2 tết năm 2023, vợ chồng mâu thuẫn, anh đã đuổi chị Hiền đi, chị Hiền đã bỏ đi không về. Anh biết là anh cũng sai, nhưng vợ chồng chưa mâu thuẫn nặng nề. Chị Hiền đề nghị ly hôn, anh không đồng ý ly hôn. Về con: anh thống nhất vợ chồng có 03 con chung, do anh không đồng ý ly hôn nên anh không có ý kiến gì về phần con chung; Về tài sản: anh không có ý kiến gì.
Vụ án có liên quan đến người chưa thành niên, Tòa án đã tiến hành xác minh nguyên nhân phát sinh tranh chấp theo đúng quy định tại khoản 3 Điều 208 của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, anh Nguyên vắng mặt, nên việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ chỉ tiến hành được với nguyên đơn, đồng thời Tòa án không tiến hành hòa giải được. Vì vậy,Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử theo quy định.
Mặc dù anh Nguyên đã được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử (HĐXX) quyết định hoãn phiên tòa.
Tại phiên tòa hôm nay, chị Hiền yêu cầu ly hôn anh Nguyên; về con: cháu Đỗ Thị Thu Hồng, sinh ngày 16/5/2005 đã trưởng thành, chị không yêu cầu giải quyết. Chị đề nghị được trực tiếp nuôi 02 cháu Đỗ Hồng Anh, sinh ngày 14/6/2011và Đỗ Gia Bảo, sinh ngày 18/4/2013; yêu cầu anh Nguyên cấp dưỡng cho mỗi cháu là 500.000đ/tháng (02 cháu là 1.000.000đ/tháng); Về tài sản chị không yêu cầu.Đối với bị đơn anh Nguyên được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai, vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyên.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Những người tham gia tố tụng: nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của BLTTDS quy định; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị Hiền, cho chị Hiền được ly hôn anh Nguyên. Về con: giao các cháu Đỗ Hồng Anh, sinh ngày 14/6/2011; Đỗ Gia Bảo, sinh ngày 18/4/2013 cho chị Hiền trực tiếp nuôi dưỡng; Anh Nguyên thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Về án phí: chị Hiền, anh Nguyên phải chịu án phí DSST theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về thủ tục tố tụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
* Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị Mai Thị Hiền và anh Đỗ Văn Nguyên kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hòa hợp, xảy ra xung đột, không có tiếng nói chung. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 12/2022 đến nay. Chị Hiền yêu cầu ly hôn, anh Nguyên không đồng ý ly hôn. Xét thấy cuộc sống chung của chị Hiền và anh Nguyên đã phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân, cuộc sống chung không thể duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được nên HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị Hiền, cho chị Hiền được ly hôn anh Nguyên là phù hợp quy định của pháp luật.
Về con: Vợ chồng có 03 con chung là Đỗ Thị Thu Hồng, sinh ngày 16/5/2005; Đỗ Hồng Anh, sinh ngày 14/6/2011; Đỗ Gia Bảo, sinh ngày 18/4/2013. Sau ly hôn, chị Hiền đề nghị trực tiếp nuôi 02 cháu là Hồng Anh và Gia Bảo; đối với cháu Thu Hồng đã trưởng thành nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với anh Nguyên: anh không có ý kiến gì về việc nuôi con.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị Hiền yêu cầu anh Nguyên thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung là cháu Hồng Anh và cháu Gia Bảo, mức cấp dưỡng là 500.000đ/tháng/cháu (02 cháu là 1.000.000đ/tháng).
Xét yêu cầu được nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị Hiền là hoàn toàn chính đáng. Qua xác minh tại UBND xã Nga Phượng thì cháu Hồng Anh và cháu Gia Bảo đang ở cùng anh Nguyên nhưng chị Hiền vẫn thường xuyên qua lại thăm các cháu. Nguyện vọng của các cháu Hồng Anh và cháu Gia Bảo là xin được ở với mẹ. Anh Nguyên không có ý kiến gì về việc nuôi con. Vì vậy, chấp nhận đề nghị của chị Hiền là giao cả 02 cháu Hồng Anh và Gia Bảo cho chị Hiền trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: anh Nguyên thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung là cháu Hồng Anh và cháu Gia Bảo, mức cấp dưỡng là 500.000đ/tháng/cháu (02 cháu là 1.000.000đ/tháng) cho đến khi các cháu trưởng thành.
Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
Về án phí: Chị Hiền phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định; anh Nguyên phải chịu án phí về cấp dưỡng định kỳ theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị Hiền, cho chị Hiền được ly hôn anh Đỗ Văn Nguyên.
2. Về con: Giao cháu Đỗ Hồng Anh, sinh ngày 14/6/2011; Đỗ Gia Bảo, sinh ngày 18/4/2013 cho chị Hiền trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyên thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, mức cấp dưỡng là 500.000đ/tháng/cháu (02 cháu là 1.000.000đ/tháng). Thời gian cấp dưỡng nuôi con chung tính từ tháng 6/2023 đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Mai Thị Hiền phải chịu án phí DSST về việc ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2021/0016465 ngày 08/02/2023 của Chi cục THADS huyện Nga Sơn, chị Hiền đã nộp đủ án phí DSST.
Anh Nguyên phải nộp 300.000đ án phí về cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ.
4. Quyền kháng cáo: Chị Hiền có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Nguyên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND huyện Nga Sơn;
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Các đương sự;
- Phòng GĐ- KT Tòa án tỉnh;
- Chi cục THADS huyện Nga Sơn;
- UBND thị trấn Nga Sơn;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Lê Thị Huệ
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Hạnh
Nguyễn Văn Quản
Lê Thị Huệ
| Nơi nhận: - VKSND huyện Nga Sơn; - Các đương sự; - Phòng GĐ- KT Tòa án tỉnh; - Chi cục THADS huyện Nga Sơn; - UBND thị trấn Nga Sơn; - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Hội thẩm nhân dân Nguyễn Văn Hạnh Nguyễn Văn Quản | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Huệ Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Huệ |