vanban.org

Bản án 30/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Ngọc A về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với anh Nguyễn Văn B.

Về hôn nhân: Chị Trần Ngọc A được ly hôn với anh Nguyễn Văn B; Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn Đ và cháu Nguyễn Thị Huyền N cho chị Trần Ngọc A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu thành niên. Anh B không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung và có quyền qua lại, thăm nom, c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T/C HNGĐ (Trần Ngọc A - Nguyễn Văn B)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Ngọc A về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với anh Nguyễn Văn B.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SẦM SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH THANH HÓA
Bản án số: 30/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 20 - 9 - 2023
V/v: ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Hay;

Ông Chu Ngọc Trọng;

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Anh Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2023/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 24/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Ngọc A - sinh năm 1997; (Có đơn xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố T, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B - sinh năm 1994; (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố T, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Ngọc A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị A và anh B tự do tìm hiểu, tổ chức cưới theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa vào năm 2015. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 01 năm, sau này thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh B chơi bời, không tu chí làm ăn chăm lo gia đình, chị A đã nhiều lần khuyên anh B nhưng anh B không nghe mà còn đánh, chửi chị, mỗi lần thua lô đề là anh về nhà đánh và đuổi mẹ con chị ra khỏi nhà, đến năm 2021 chị A đã mang cả 02 con dọn ra ngoài ở riêng, vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyện vọng của chị A được giải quyết ly hôn với anh B.

Về con chung: Chị A và anh B có 02 con chung, là cháu Nguyễn Văn Đ - sinh ngày 04/11/2016 và cháu Nguyễn Thị Huyền N – sinh ngày 16/12/2018. Nay chị A đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng 02 cháu và yêu cầu anh B cấp dưỡng tiền nuôi con chung 1.000.000 đồng/cháu/tháng, 02 cháu là 2.000.000 đồng/tháng. Tại bản tự khai ngày 15/3/2023 và biên bản ngày 31/7/2023 chị A thay đổi việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung, nay chị đề nghị không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản, công nợ chung: Chị A không yêu cầu xem xét, giải quyết.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn B: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi xét xử, đã tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh B nhưng anh từ chối, không nhận văn bản, không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về hướng giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014,

Đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn, xử cho chị A được ly hôn với anh B.

Về yêu cầu nuôi con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào nguyện vọng của đương sự để giao con theo quy định, cần giao cháu Nguyễn Văn Đ và cháu Nguyễn Thị Huyền N cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về tài sản, công nợ chung: Chị A không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

Về án phí: Buộc nguyên đơn chị Trần Ngọc A phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa. Trên cơ sở quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc chấp hành pháp luật tố tụng và đề nghị hướng giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn có đủ cơ sở nhận định.

[1]. Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Do bị đơn anh Nguyễn Văn B có nơi cư trú tại phường Quảng Vinh, thành phố Sầm Sơn nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn là đúng quy định tại các Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Văn B đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng anh B vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng và trở ngại khách quan; nguyên đơn chị Trần Ngọc A có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh B và chị A.

Xét về quan hệ hôn nhân: Chị A và anh B đã thực hiện lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương, việc kết hôn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, cả chị và anh không vi phạm các quy định về độ tuổi và các điều kiện cấm kết hôn theo luật hôn nhân và gia đình. Như vậy, hôn nhân của anh, chị được công nhận là hợp pháp.

. Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn đối với bị đơn: Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian đầu, sau này phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh B chơi bời, không tu chí làm ăn chăm lo gia đình, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã. Chị A đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh B không nghe mà còn đánh, chửi chị, mỗi lần thua lô đề là anh về nhà đánh và đuổi mẹ con chị ra khỏi nhà. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án triệu tập nhiều lần để giải quyết nhưng anh B vẫn vắng mặt không lý do, điều đó thể hiện anh B không mong muốn vợ chồng hòa giải những bất đồng để quay về đoàn tụ, không tha thiết với cuộc sống hôn nhân. Như vậy, mâu thuẫn cuộc sống hôn nhân của anh chị đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay nguyện vọng xin ly hôn của chị A là có căn cứ chấp nhận. Hội đồng xét xử chấp nhận với ý kiến của Kiểm sát viên, cho chị Trần Ngọc A được ly hôn anh Nguyễn Văn B là phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

. Về con chung: Chị A và anh B có 02 con chung, là cháu Nguyễn Văn Đ - sinh ngày 04/11/2016 và cháu Nguyễn Thị Huyền N – sinh ngày 16/12/2018. Nay chị A đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng 02 cháu và không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Xét thấy việc nuôi dạy con cái là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, ai cũng có quyền này. Hiện nay các cháu đang ở với mẹ, nguyện vọng của chị A được trực tiếp nuôi dưỡng 02 cháu nên cần giao cháu Đ và cháu N cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy, về nguyện vọng nuôi con của chị A là phù hợp và có căn cứ.

Đối với việc cấp dưỡng nuôi con: Chị A không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Xét đây là ý chí tự nguyện của chị A, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

.Về tài sản, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên miễn xét.

. Về án phí: Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm chị Trần Ngọc A phải chịu, theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Ngọc A về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với anh Nguyễn Văn B.

Xử:

Về hôn nhân: Chị Trần Ngọc A được ly hôn với anh Nguyễn Văn B;

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn Đ và cháu Nguyễn Thị Huyền N cho chị Trần Ngọc A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu thành niên. Anh B không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung và có quyền qua lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Về án phí: Chị Trần Ngọc A phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị A đã nộp theo biên lai số: AA/2021/0013541 ngày 01/3/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Chị A đã nộp đủ án phí.

Án xử công khai, chị Trần Ngọc A và anh Nguyễn Văn B được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ