vanban.org

Bản án 30/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị Thu H được ly hôn anh Trần Thiện T.

2/ Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Thu H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Gia B, sinh ngày 23/12/2020. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H và có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. 3/ Về án phí: Chị Trần Thị Thu H phải chịu 300… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án HNGĐ Trần Thị Thu H - Trần Thiện T"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị Thu H được ly hôn anh Trần Thiện T.
  • Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN LẠC
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 30/2023/HNGĐ - ST
Ngày 31 tháng 7 năm 2023
“V/v tranh chấp hôn nhân gia đình"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Khảm và ông Đoàn Văn Đoan.

Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Hải Yến là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Ông Đào Xuân Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 86/2023/TLST - HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2023, về việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thu H, sinh năm 2000; nơi cư trú: Thôn Y 9, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt);

Bị đơn: Anh Trần Thiện T, sinh năm 1996; nơi cư trú: Thôn Y 9, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 4 năm 2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị Thu H trình bày:

Chị và anh Trần Thiện T kết hôn với nhau tại Uỷ ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc vào ngày 08/11/2019. Trước khi kết hôn, cả hai người đều được tự do tìm hiểu. Sau ngày cưới, chị về làm dâu và sinh sống cùng với gia đình nhà anh T ngay. Quá trình chung sống, ban đầu tình cảm vợ chồng hạnh phúc được khoảng một năm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, chủ yếu là do cuộc sống hàng ngày vợ chồng sống không hạnh phúc, thường xuyên bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung dẫn đến cãi chửi nhau. Khi tình cảm vợ chồng dạn nứt, hai bên gia đình có giàn xếp để vợ chồng về sống với nhau nhưng không có kết quả. Tháng 3/2023, vợ chồng sống ly thân với nhau. Trong thời gian sống ly thân, cả chị H và anh T đều không ai còn quan tâm gì đến cuộc sống của nhau. Xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Bị đơn là anh Trần Thiện T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tại phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh T trình bày:

Về thời gian đăng ký kết hôn, thời gian chung sống và mâu thuẫn vợ chồng, anh T xác định đúng như lời trình bày trên của chị H.

Anh T thừa nhận, vợ chồng sống ly thân nhau từ tháng 3/2023 cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân thì cả anh và chị H đều không ai còn quan tâm gì đến cuộc sống của nhau. Xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn và cũng không thể hàn gắn được với nhau nên chị H xin ly hôn, anh đồng ý.

Về con chung: Chị H và anh T đều xác định, vợ chồng có 01 con chung là cháu Trần Gia B, sinh ngày 23/12/2020; hiện nay cháu B đang ở với chị H. Ly hôn, nguyện vọng của chị H xin được nuôi con, anh T đồng ý.

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, chị H yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung với chị mức 500.000đ/tháng (Năm trăm nghìn đồng), kể từ tháng 6/2023 cho đến khi con thành niên. Anh T không đồng ý.

Tại phiên tòa, chị H xin thay đổi. Không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng với chị.

Về các mối quan hệ nhân thân khác như tài sản chung, tài sản riêng, đất ở; đất canh tác; công nợ và công sức: Ly hôn, chị H và anh T không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật như sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, Thẩm phán; Thư ký Toà án và Hội đồng xét xử đã làm đầy đủ và tuân theo đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử. Bị đơn không có mặt tại phiên tòa, không chấp hành đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nên Kiểm sát viên không có kiến nghị gì.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 51, 56, 81 và Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Thu H và cho chị H được ly hôn với anh Trần Thiện T.

Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Thu H được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Gia B, sinh ngày 23/12/2020. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng với chị H.

Về tài sản chung, đất ở, đất canh tác; công nợ và công sức: Chị H và anh T không đề nghị Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị H phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Chị Trần Thị Thu H là nguyên đơn, yêu cầu xin ly hôn đối với bị đơn là anh Trần Thiện T. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc xác định đây là vụ án dân sự về tranh chấp hôn nhân và gia đình. Theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đã thụ lý và giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng trình tự tố tụng dân sự.

Anh Trần Thiện T là bị đơn trong vụ án, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh T theo thủ tục chung.

. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy rằng:

Chị H và anh T đều xác định, tình cảm vợ chồng đến nay không còn và không thể hàn gắn lại được với nhau nên anh chị đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn với nhau.

Căn cứ vào kết quả xác minh thu thập chứng cứ của Tòa án tại Ủy ban nhân dân xã Y và lời trình bày của hai bên đương sự, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Chị H và anh T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc cho nên cần xác định cuộc hôn nhân của chị H và anh T là cuộc hôn nhân hợp pháp và được pháp luật công nhận. Quá trình chung sống, chị H và anh T đều thừa nhận. Trong cuộc sống hàng ngày, giữa chị H và anh T có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng không có cuộc sống hôn nhân hạnh phúc, thiếu sự quan tâm chia sẻ đối với nhau. Khi xẩy ra mâu thuẫn, cả chị H và anh T đều không ai tìm biện pháp để hàn gắn lại tình cảm vợ chồng mà chọn cách sống ly thân. Trong thời gian sống ly thân, chị H và anh T không ai còn quan tâm gì đến cuộc sống của nhau. Khi chị H xin ly hôn, anh T đồng ý ngay. Điều này chứng tỏ, tình cảm vợ chồng giữa chị H và anh T đã dạn nứt đến mức độ trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, thấy yêu cầu xin ly hôn của chị H là có căn cứ nên cần chấp nhận và cho chị H được ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị H và anh T đều xác định, vợ chồng có 01 con chung là cháu Trần Gia B, sinh ngày 23/12/2020; hiện nay cháu B đang ở với chị H. Ly hôn, nguyện vọng của chị H xin được nuôi con, anh T đồng ý. Xét thấy, việc nuôi dạy con là quyền lợi và cũng là trách nhiệm của cả cha và mẹ. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, chị H và anh T đã thống nhất được với nhau về việc nuôi con là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật. Do vậy, cần giao cho chị H được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Gia B.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tại phiên tòa, chị H xin thay đổi không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung với chị. Xét thấy, việc chị H xin thay đổi không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con hoàn toàn là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

Do chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Anh T có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung, đất ở, đất canh tác; công nợ và công sức: Chị H và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

. Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Chị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì vậy, quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên đối với vụ án này là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên./.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 51; 56; 81; 82; 83; 110 và Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị Thu H được ly hôn anh Trần Thiện T.

2/ Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Thu H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Gia B, sinh ngày 23/12/2020. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H và có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

3/ Về án phí: Chị Trần Thị Thu H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0001653 ngày 12 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc. Xác nhận chị H đã nộp xong.

Đương sự có mặt, có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt, có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ