- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị N. N. H yêu cầu ly hôn với anh H. P. L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị N. N. H đối với anh N. P. L. Chị N. N. H được ly hôn với anh N. P. L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2023/HNGĐ-ST Ngày: 23 – 5 – 2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Phạm Thị Yến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn An.
Bà Nguyễn Thị Kim Cơ.
- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Thu Trang – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Thướng – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 198/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị N. N. H, sinh năm 2002; địa chỉ: ấp A, xã B, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
- Bị đơn: anh N. P. L, sinh năm 1987; địa chỉ: ấp V, xã B, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị N. N. H trình bày:
Chị và anh N. P. L chung sống với nhau vào năm 2019, trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn năm 2020 tại Ủy ban nhân dân xã B, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Sau khi cưới, chị và anh L thuê nhà trọ tại khu phố D, phường K, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh sinh sống và làm việc. Anh, chị chung sống hạnh phúc được 01 năm thì xảy ra mâu thuẫn nên chị về nhà cha mẹ ruột ở. Sau đó, được cha mẹ hai bên hòa giải nên vợ chồng hàn gắn tình cảm và quay lại chung sống. Đến đầu năm 2021, chị và anh L tiếp tục phát sinh mâu thuẫn nên chị đưa con về nhà cha mẹ ruột ở cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh L thường xuyên uống rượu và đuổi mẹ con chị đi. Ngoài ra, anh L còn ham mê bài bạc, thường xuyên cá độ đá banh, ghi số đề, không quan tâm chăm sóc vợ con. Từ lúc vợ chồng sống ly thân cho đến nay, anh L không gọi điện hay đến thăm con lần nào cũng không đưa tiền phụ chị nuôi con, hai bên đều không có thiện chí đoàn tụ. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh L.
Về con chung: chị và anh L có 01 người con chung tên N. N. P. N, sinh ngày 10/02/2020, hiện con đang sống với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: chị H trình bày không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Không có ai khác nợ lại hai vợ chồng.
Bị đơn – anh N. P. L đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, triệu tập tham gia phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ cũng như tham gia phiên toà xét xử sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:
Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Riêng bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, không thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự, làm cho việc giải quyết vụ án kéo dài, vi phạm quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: căn cứ các điều 56, 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định: chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị N. N. H đối với anh N. P. L. Về con chung, giao cháu N. N. P. N, sinh ngày 10/02/2020 cho chị H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, ghi nhận chị H không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: không đặt ra giải quyết. Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến, yêu cầu của nguyên đơn và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Bị đơn anh N. P. L đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên toà xét xử sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh L là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị H, anh L chung sống từ năm 2019, do tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn năm 2020 tại Ủy ban nhân dân xã B, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Vì vậy, hôn nhân của anh, chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Chị H trình bày chị và anh L chung sống hạnh phúc được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn do anh L thường xuyên uống rượu, ham mê bài bạc, không quan tâm đến vợ, con, chị đã góp ý nhiều lần nhưng anh L không thay đổi. Mặc dù chị H không cung cấp được chứng cứ chứng minh anh L đánh bài, uống rượu, tuy nhiên, qua xác minh tại địa phương thể hiện chị H và anh L không còn sống chung một nhà khoảng từ giữa năm 2021 cho đến nay. Điều này cho thấy, giữa chị H và anh L có xảy ra mâu thuẫn nhưng anh, chị không tự hòa giải được. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, có lần anh L trực tiếp nhận văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt tại các buổi làm việc, vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cũng như phiên tòa xét xử sơ thẩm. Điều này chứng tỏ anh không có thiện chí đoàn tụ, không còn tôn trọng và quan tâm đến quan hệ vợ chồng giữa anh và chị H. Xét thấy, mục đích hôn nhân giữa chị H và anh L không đạt được, tình trạng hôn nhân không thể kéo dài, do đó, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: anh, chị chung sống có 01 người con chung tên N. N. P. N, sinh ngày 10/02/2020, hiện đang sống chung với chị H. Xét yêu cầu được nuôi con của chị H thấy rằng: cháu Nhi là con gái, đang còn nhỏ và sống ổn định với chị H từ lúc vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian cháu N sống với chị H tình trạng sức khỏe của cháu N vẫn phát triển bình thường, bản thân chị H làm công nhân, có thu nhập và chỗ ở ổn định. Vì vậy, giao cháu N cho chị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị H không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở anh L thực hiện quyền này.
Về tài sản chung: chị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: chị H trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.
Về án phí: chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ các điều 56, 81 và 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị N. N. H đối với anh N. P. L. Chị N. N. H được ly hôn với anh N. P. L.
2. Về con chung: giao cháu N. N. P. N, sinh ngày 10/02/2020 cho chị N. N. H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Ghi nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.
4. Về nợ chung: chị H trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.
5. Về án phí: chị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0026984 ngày 26 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, ghi nhận chị H đã nộp đủ án phí.
6. Về quyền kháng cáo: chị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Anh L được quyền được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND T.Tây Ninh; - VKSND TX. Trảng Bàng; - Chi cục THADS TX. Trảng Bàng; - Ủy ban nhân dân xã B; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn; - Các đương sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thị Yến |