vanban.org

Bản án 30/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đặng Thị Phương được ly hôn anh Đinh Tiến Hải.

Về con chung: Giao cháu Đinh Phương Vy sinh ngày 07/6/2013 cho chị Đặng Thị Phương trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu Đinh Tiến Thành sinh ngày 05/02/2020 cho anh Đinh Tiến Hải được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, kể từ tháng 9/2023 đến khi các con ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, con chung"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đặng Thị Phương được ly hôn anh Đinh Tiến Hải.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH SƠN
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29/8/2023
V/v: Ly hôn, con chung

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Vĩnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Gia Thắng

Ông Hà Đình Sở

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Mạnh Cường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn tham gia phiên tòa: Ông Đinh Trọng Nho – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 92/2023/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 6 năm 2023 về việc: “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 53/2023 ngày 15 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự

- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Phƣơng, sinh năm 1992

ĐKHKTT: Khu Đầm Sen, xã Yên Lương, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ

- Bị đơn: Anh Đinh Tiến Hải, sinh năm 1988

ĐKHKTT: Khu Đầm Sen, xã Yên Lương, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ

(Chị Phương có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Hải vắng mặt lần thứ hai không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, quá trình làm việc tại Tòa án, các đương sự trình bày:

Về quan hệ hôn nhân:

Nguyên đơn chị Đặng Thị Phương trình bày: Chị kết hôn với anh Đinh Tiến Hải ngày 14/9/2012 được tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hương Cần, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn thời gian đầu chung sống hạnh phúc, Sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung trong cuộc sống, vợ chồng thường xảy ra cãi vã, bất đồng quan điểm, cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Khi xảy ra mâu thuẫn vợ chồng và hai bên gia đình đã nói chuyện, hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Nay chị xét thấy không còn tình cảm với anh Hải nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn.

Bị đơn anh Đinh Tiến Hải trình bày: Anh Hải xác nhận việc tìm hiểu, thời gian đăng ký kết hôn như chị Phương trình bày là đúng: Sau khi kết hôn thời gian đầu chung sống hạnh phúc. Khoảng cuối năm 2022 vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống, gần đây mâu thuẫn vợ chồng trở nên nặng nề hơn, nguyên nhân do anh Hải nghi ngờ chị Phương có quan hệ ngoài luồng nên sau khi đi uống rượu về có chửi mắng và đánh chị Phương. Từ đó mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng. Tuy nhiên kể từ đó đến nay vợ chồng không xảy ra đánh nhau nữa. Tại bản tự khai ngày 19/6/2023 anh Hải xác định tình cảm vợ chồng không còn và đồng ý ly hôn với chị Phương, tuy nhiên tại bản tự khai ngày 13/7/2023 anh Hải xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên không đồng ý ly hôn với chị Phương, mong muốn vợ chồng về đoàn tụ nuôi dạy con cái.

Về con chung: Chị Phương, anh Hải đều xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Đinh Phương Vy sinh ngày 07/6/2013 và cháu Đinh Tiến Thành sinh ngày 05/02/2020, hiện các cháu đang ở với anh chị và ông bà nội. Nếu ly hôn, chị Phương và Hải thống nhất, giao cháu Đinh Phương Vy cho chị Phương trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và giao cháu Đinh Tiến Thành cho anh Hải trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ khi quan hệ hôn nhân chấm dứt cho đến khi các cháu thành niên. Hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp và tƣ trang riêng: Chị Phương và anh Hải xác định vợ chồng tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ, tại biên bản xác minh ngày 25/7/2023, ông trưởng khu hành chính cung cấp thông tin như sau:

Chị Phương và anh Hải có đăng ký kết hôn năm 2012 và tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng bố mẹ chồng tại xã Yên Lương. Do kinh tế gia đình khó khăn nên một thời gian anh Hải có đi lao động ở nước ngoài khi về nước cũng không tích cóp được gì. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, cách ăn ở và đối xử với nhau hằng ngày không được tình cảm. Vợ chồng đi làm công nhân có mối quan hệ bạn bè từ đó không tin tưởng lẫn nhau, ghen tuông, dẫn tới cãi vã, đánh chửi nhau. Anh Hải nghi ngờ chị Phương đi làm công ty và có quan hệ ngoài luồng. Hiện tại vợ chồng đã sống ly thân không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Khi mâu thuẫn vợ chồng chị Phương anh Hải xảy ra, phía gia đình, khu xóm có khuyên giải nhiều nhưng các bên vẫn không khắc phục được mâu thuẫn mà ngày càng trầm trọng. Quan điểm của khu hành chính là thực tế mâu thuẫn vợ chồng chị Phương anh Hải đã kéo dài, hôn nhân không có hạnh phúc, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tòa án đã làm việc với ông Đinh Văn Dù (Là bố đẻ anh Đinh Tiến Hải), tại biên bản lấy lời khai ngày 25/7/2023, ông Dù trình bày:

Năm 2012 chị Phương và anh Hải kết hôn có sự tìm hiểu tự nguyện. Do kinh tế khó khăn nên anh Hải đi lao động tại Đài Loan nhưng cũng không tích cóp được gì. Sau khi về nước vợ chồng ở với nhau nhưng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống và trong làm ăn kinh tế, vợ chồng không tin tưởng tình cảm của nhau dẫn tới cãi vã, xúc phạm nhau, hai bên gia đình đã khuyên giải nhưng vợ chồng vẫn không khắc phục được mâu thuẫn. Hiện tại vợ chồng đã sống ly thân mỗi người một nơi, không ai còn quan tâm đến nhau nữa, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Chị Phương anh Hải có 02 con chung là cháu Đinh Phương Vy sinh năm 2013 và cháu Đinh Tiến Thành sinh năm 2020, hiện các cháu đang ở với gia đình ông. Vợ chồng chị Phương anh Hải đi làm nhưng vẫn có trách nhiệm với con chung, hằng tháng vẫn đưa tiền cho ông bà để nuôi các cháu, thỉnh thoảng anh chị vẫn về thăm con.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị Phương anh Hải ở cùng gia đình ông, không tạo lập được tài sản chung gì. Các vấn đề khác ông không nắm được. Hiện tại anh Hải đi làm ở Hà Nội, thỉnh thoảng vẫn về nhà, nếu bận không về được thì anh cũng có gọi điện về hỏi thăm con.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát:

Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật, không có vi phạm gì. Các đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ, bị đơn không chấp hành nghiêm túc quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự

Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phương.

Căn cứ các Điều 56; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014. Cho chị Đặng Thị Phương được ly hôn anh Đinh Tiến Hải.

Về con chung: Giao cháu Đinh Phương Vy, sinh ngày 07/6/2013 cho chị Phương và giao cháu Đinh Tiến Thành sinh ngày 05/02/2020 cho anh Hải trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, kể từ tháng 9/2023 đến khi các cháu thành niên. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ với con chung, không ai được cản trở.

Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Phương phải chịu án phí Hôn nhân và

gia đình sơ thẩm, các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Đặng Thị Phương khởi kiện yêu cầu Tòa án cho ly hôn anh Đinh Tiến Hải, đây là tranh chấp về Hôn nhân gia đình theo Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Phương và anh Hải đều ĐKNKTT tại xã Yên Lương, huyện Thanh Sơn vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Phương có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Hải vắng mặt lần thứ hai không có lý do. HĐXX xét xử vắng mặt chị Phương, anh Hải là đúng quy định tại điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Phương và anh Đinh Tiến Hải có sự tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã Hương Cần, huyện Thanh Sơn vào ngày 14/9/2012, sau khi kết hôn chị Phương về làm dâu sinh hoạt cùng gia đình anh Hải đến nay. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Về tình cảm: Chị Phương và anh Hải đều thừa nhận vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung trong cuộc sống và không tin tưởng lẫn nhau dẫn tới thường xảy ra cãi vã, xúc phạm nhau, cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng do đó vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2022 mỗi người một nơi không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị Phương xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hải. Ban đầu anh Hải cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị được ly hôn chị Phương, tuy nhiên sau đó anh Hải thay đổi quan điểm và cho rằng vẫn còn tình cảm với chị Phương nên không đồng ý ly hôn với chị Phương, mong muốn đoàn tụ vợ chồng vì thương các con.

Từ lời trình bày của các đương sự và kết quả xác minh tại địa phương: HĐXX thấy rằng: Mâu thuẫn chính của vợ chồng chị Phương và anh Hải xuất phát từ tình cảm vợ chồng không hợp nhau, vợ chồng không tin tưởng lẫn nhau, thường xuyên xảy ra cãi vã, xúc phạm nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Từ đó dẫn tới vợ chồng sống ly thân không ai còn quan tâm đến nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị Phương kiên quyết xin ly hôn, anh Hải không nhất trí ly hôn vì xác định vẫn còn tình cảm với chị Phương, tuy nhiên bản thân anh Hải lại không đưa ra được giải pháp để khắc phục mâu thuẫn vợ chồng. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải cũng như để đương sự có thời gian khắc phục, hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Như vậy xác định tình cảm giữa chị Phương và anh Hải không còn, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mâu thuẫn đã trầm trọng không thể hàn gắn được. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần cho chị Phương được ly hôn anh Hải là phù hợp Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị Phương và anh Hải thống nhất xác nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu Đinh Phương Vy sinh ngày 07/6/2013 và cháu Đinh Tiến Thành sinh ngày 05/02/2020, hiện các cháu đang ở với vợ chồng và ông bà nội. Ly hôn, chị Phương và Hải thống nhất giao cháu Đinh Phương Vy cho chị Phương và giao cháu Đinh Tiến Thành cho anh Hải trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ khi quan hệ hôn nhân chấm dứt cho đến khi các cháu thành niên. Hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

HĐXX xét thấy, nguyện vọng xin được nuôi con của chị Phương và anh Hải đều chính đáng. Tại đơn trình bày nguyện vọng và bản tự khai cháu Đinh Phương Vy có nguyện vọng muốn được ở với mẹ. Sự thỏa thuận của các đương sự phù hợp với nguyện vọng của các con và điều kiện nuôi dạy con trên thực tế. Vì vậy cần giao cháu Đinh Phương Vy cho chị Phương và giao cháu Đinh Tiến Thành cho anh Hải trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ khi quan hệ hôn nhân chấm dứt cho đến khi các cháu thành niên. Hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với Điều 81 – Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp và tư trang riêng: Chị Phương và anh Hải xác định vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Phương phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm; Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Các Điều 28, 35,39, 147, 227, 228, 238, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đặng Thị Phương được ly hôn anh Đinh Tiến Hải.

2. Về con chung: Giao cháu Đinh Phương Vy sinh ngày 07/6/2013 cho chị Đặng Thị Phương trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu Đinh Tiến Thành sinh ngày 05/02/2020 cho anh Đinh Tiến Hải được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, kể từ tháng 9/2023 đến khi các con chung thành niên. Hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Đặng Thị Phương phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Xác nhận chị Phương đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số AA/2020/ 0007177 ngày 05/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn, nay chuyển thành án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ