vanban.org

Bản án 30/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P M D P đối với bà P T N.

Về hôn nhân: Cho ông P M D P ly hôn với bà P T N. Về con chung: Ông P M D P được quyền nuôi dưỡng Phan Phạm Khánh Duy, sinh ngày 10/02/2016, Duy hiện đang sống chung với ông Phương. Bà Ngọc không cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "PHƯƠNG- NGỌC"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P M D P đối với bà P T N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN THẠNH HÓA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27 - 6- 2023
V/v tranh chấp “ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Trường Thọ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Bé

2. Ông Lê Văn Lý

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.

Ngày 27 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 14/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2023 về việc tranh chấp “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông P M D P, sinh năm 1990

Địa chỉ: Ấp Nước Trong, xã Thủy Đông, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Bà P T N, sinh năm 1993

Địa chỉ: Ấp Nước Trong, xã Thủy Đông, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.

(Ông Phương có mặt; bà Ngọc vắng mặt).

NỘI NGỌC VỤ ÁN:

Nguyên đơn P M D P yêu cầu khởi kiện: Ông P M D P và bà P T N sống chung và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thủy Đông, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An vào năm 2005. Trong quá trình chung sống ông Phương và bà Ngọc có 01 con chung tên Phan Phạm Khánh Duy, sinh ngày 10/02/2016 Duy hiện đang sống chung với ông Phương. Vợ chồng chung sống lúc đầu hạnh phúc nhưng từ năm 2019 do tính tình và quan điểm sống không phù hợp nhau chủ yếu là bà Ngọc tự ý lấy tài sản chung của gia đình dùng vào việc mà ông Phương không biết nên từ tháng 02 năm 2020 ông Phương và bà Ngọc không sống chung. Nay ông Phương nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn nên ông Phương khởi kiện yêu cầu: Về tình cảm, ông Phương yêu cầu ly hôn với bà Ngọc; về con chung, ông Phương yêu cầu được nuôi Phan Phạm Khánh Duy, không yêu cầu bà Ngọc cấp dưỡng; về tài sản chung, nợ chung, ông Phương không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà P T N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Ông P M D P và Bà P T N có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thủy Đông, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Bà Ngọc cư trú trên địa phận huyện Thạnh Hóa, ông Phương khởi kiện yêu cầu ly hôn, đây là quan hệ pháp luật được quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vắng mặt bà P T N: Bà Ngọc vắng mặt không có lý do dù đã được triệu tập hợp lệ, căn cứ vào khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Ngọc.

Về hôn nhân: Ông P M D P trình bày nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng là do tính tình và quan điểm sống không phù hợp nhau chủ yếu do bà Ngọc tự ý lấy tài sản chung của gia đình dùng vào việc mà ông Phương không biết nên từ tháng 02 năm 2020 ông Phương và bà Ngọc không sống chung. Xét thấy, bà Ngọc vắng mặt không tham gia tố tụng tại Tòa án và cũng không có ý kiến phản bác lời trình bày của ông Phương nên lời trình bày của ông Phương về tình trạng mâu thuẫn giữa ông Phương và bà Ngọc là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định tình cảm vợ chồng giữa ông Phương và bà Ngọc không còn, tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được là phù hợp với khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Ông P M D P yêu cầu được nuôi dưỡng Phan Phạm Khánh Duy, không yêu cầu bà Ngọc cấp dưỡng. Bà Ngọc vắng mặt và không có ý kiến nào về việc nuôi dưỡng con chung. Bên cạnh đó, Duy hiện đang sống chung với ông Phương và có ý kiến tại bản tự khai ngày 16/3/2023 là muốn sống chung với ông Phương. Do đó, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu nuôi dưỡng con chung của ông Phương.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông P M D P không yêu cầu Tòa án giải quyết, bà Ngọc không có văn bản thể hiện yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, Ông P M D P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm sung vào công quỹ nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P M D P đối với bà P T N.

Về hôn nhân: Cho ông P M D P ly hôn với bà P T N.

Về con chung: Ông P M D P được quyền nuôi dưỡng Phan Phạm Khánh Duy, sinh ngày 10/02/2016, Duy hiện đang sống chung với ông Phương. Bà Ngọc không cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này do các đương sự không yêu cầu.

Về án phí: Ông P M D P phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước, chuyển số tiền 300.000đ tạm ứng án phí mà ông Phương đã nộp theo biên lai số 0008932 ngày 06 tháng 02 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Hóa sang thi hành án phí.

Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ