vanban.org

Bản án 30/2023/HNGD-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị Thu Y được ly hôn anh Nguyễn Lương B.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh C, sinh ngày 15/6/2021 cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, anh B cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Y mỗi tháng 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng từ tháng 4 năm 2023 cho đến khi cháu Minh C đủ 18 tuổi hoặc đến khi các bên đương sự có yêu cầu thay đổi mức… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Y xin ly hôn anh B"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị Thu Y được ly hôn anh Nguyễn Lương B.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆTHẠCH THÀNH
TÌNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2023/HNGD- ST
Ngày: 17/4/2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TINH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hà

2. Bà Bùi Thị Bích Thủy

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Hùng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hiên - Kiểm sát viên .

Ngày 17 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 03 năm 2023 và Quyết định Hoãn phiên tòa số: 14/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31/03/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thu Y; Sinh năm: 1994

HKTT: Khu phố P, TT K, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Địa chỉ: Khu 5, Thị trấn K, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

Có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Lương B; Sinh năm: 1991

HKTT và địa chỉ hiện nay: Khu phố P, TT K, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 10/01/2023 và bản tự khai cũng như quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Phạm Thị Thu Y trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Lương B kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện T, tỉnh Thanh Hóa ngày 10/04/2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng hòa thuận được một thời gian ngắn thì mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do trước khi kết hôn không tìm hiểu kĩ về nhau nên khi chung sống một nhà thì nhận ra tính cách không hòa hợp, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, cuộc sống không hạnh phúc. Chị và anh B đã sống ly thân gần một năm nay, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Đến nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể không thể chung sống được nữa nên đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành giải quyết cho chị được ly hôn anh B.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Minh C, sinh ngày 15/06/2021. Khi vợ chồng bắt đầu sống ly thân thì cháu vẫn ở với chị. Sau đó, anh B đã đưa con về nhà và không cho chị gặp con. Chị đã nhiều lần lên đón con nhưng bị anh B đuổi đánh. Nay ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con và yêu cầu anh B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị là 2.000.000đ (Hai triệu đồng)/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Về tài sản: Chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã Tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và triệu tập anh Nguyễn Lương B để nộp bản tự khai nhưng anh B không có mặt nên không có lời khai của anh B trong hồ sơ vụ án.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Tòa án đã xác định đúng quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của các đương sự trong vụ án. Từ giai đoạn thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án cũng như các thành viên của Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là HĐXX) và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (Sau đây viết tắt là BLTTDS). Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình còn bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS.

Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 107, 110, 116 và 117 Luật hôn nhân gia đình; Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị Thu Y được ly hôn anh Nguyễn Lương B; Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh C, sinh ngày 15/06/2021 cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, anh B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Y là 2.000.000đ (Hai triệu đồng)/tháng cho đến khi cháu C đủ 18 tuổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

. Về tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình có con chưa thành niên và trong quá trình giải quyết vụ án, do các bên đương sự chưa thống nhất được các vấn đề tranh chấp trong vụ án nên Tòa án đã tiến hành xác minh để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo khoản 3 Điều 208 BLTTDS và đã thông báo kết quả thu thập tài liệu chứng cứ cho các bên đương sự cũng như VKS được biết.

. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự, nhưng anh B không có mặt nên Tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ cho anh B theo khoản 3 Điều 210 BLTTDS.

. Anh B đã được thông báo hợp lệ đến phiên hoà giải hai lần nhưng anh B đều không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 BLTTDS.

. Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Thu Y và anh Nguyễn Lương B kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện T, tỉnh Thanh Hóa ngày 10/04/2018 và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Sau khi kết hôn, vợ chồng hòa thuận được một thời gian ngắn thì mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do trước khi kết hôn, hai bên không tìm hiểu kĩ về nhau nên khi chung sống một nhà thì nhận ra tính cách không hòa hợp nên thường xuyên xảy ra cãi vã, cuộc sống không hạnh phúc. Chị và anh B đã sống ly thân gần một năm nay, không còn quan hệ tình cảm với nhau nữa. Việc này, đã được các cấp chính quyền thị trấn K xác nhận và cũng phù hợp với nội dung mà Tòa án tiến hành xác minh tại địa phương. HĐXX nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, hạnh phúc hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho chị Phạm Thị Thu Y được ly hôn anh Nguyễn Lương B.

. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung. Xét thấy, cháu Nguyễn Minh C là con gái, lại đang còn rất nhỏ, rất cần sự chăm sóc của người mẹ. Do đó, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của chị Y, giao cháu Nguyễn Minh C, sinh ngày 15/06/2021 cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, anh B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Y là 2.000.000đ (Hai triệu đồng)/ tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

. Về tài sản: Chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

. Về án phí: Chị Y và anh B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 107, 110, 116 và 117 Luật hôn nhân gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí và lệ phí Toà án.

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị Thu Y được ly hôn anh Nguyễn Lương B.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh C, sinh ngày 15/6/2021 cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, anh B cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Y mỗi tháng 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng từ tháng 4 năm 2023 cho đến khi cháu Minh C đủ 18 tuổi hoặc đến khi các bên đương sự có yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng khác. Khoản tiền cấp dưỡng nuôi con được thi hành ngay mặc dù bản án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Anh B có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Phạm Thị Thu Y phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí DSST về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí DSST là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành theo biên lai số AA/2021/0007922 ngày 10/01/2023. Chị Y đã nộp đủ tiền án phí. Anh B phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí DSST về việc cấp dưỡng nuôi con.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt chị Phạm Thị Thu Y, vắng mặt anh Nguyễn Lương B. Chị Y có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ