- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thanh V - Phạm Thị Kim N"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Huỳnh Thanh V. Cho ly hôn giữa anh Huỳnh Thanh V và chị Phan Thị Kim N.
- Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 30/2023/HNGĐ-ST Ngày 19/6/2023 Về việc“Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Ái
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trương Văn Sắc
2. Bà Võ Thị Ngọc The
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Huỳnh Thiên Ân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: không tham gia.
Ngày 19 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 86/2023/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2023/ QĐXXST-HNGĐ ngày 15/5/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2023/QĐST-HNGĐ ngày 26/5/2023 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Huỳnh Thanh V – sinh năm 1973 (có mặt)
Địa chỉ: Số nhà 126, Tổ 02, ấp L, xã T, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.
* Bị đơn: Chị Phan Thị Kim N (Phạm Thị Kim N) – sinh năm 1978 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp L, xã T, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa anh Huỳnh Thanh V trình bày: Tôi và cô Phan Thị Kim N chung sống với nhau vào năm 1996, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang vào ngày 19/10/2002. Có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán địa phương, có tìm hiểu nhau trước khoảng 01 năm mới tiến tới hôn nhân, hôn nhân tự nguyện, không bị cưỡng ép.
Vợ chồng chung sống thời gian đầu hạnh phúc đến sau này thì luôn xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, có lối sống không phù hợp, vợ chồng thường cự cãi nhau, cuộc sống gia đình không có hạnh phúc, vợ chồng không sống chung với nhau từ cuối năm 2022 cho đến nay và cũng không có liên lạc gì với nhau.
- Về con chung: quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Huỳnh Thị Kim T, sinh năm 1997 và Huỳnh Thị Kim N1, sinh năm 2004 các cháu đã đủ tuổi trưởng thành, phát triển bình thường.
- Về tài sản chung và nợ chung: không có.
Tại phiên tòa anh V yêu cầu:
- Về quan hệ hôn nhân: anh V yêu cầu được ly hôn với chị N.
- Về quan hệ con chung: các cháu đã đủ tuổi trưởng thành, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn chị Phan Thị Kim N, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị N vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng và cũng không có bất cứ văn bản nào thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của anh V.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: chị Phan Thị Kim N với tư cách là bị đơn, tại phiên tòa chị N vắng mặt. Xét thấy chị N đã được Tòa án tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng chị N vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 BLTTDS.
Về quan hệ hôn nhân: Xét mối quan hệ hôn nhân giữa anh V và chị N là hôn nhân hợp pháp, vì anh chị chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang, giấy chứng nhận kết hôn số 617 Quyển số 04 ngày 19/10/2002 theo đúng quy định của pháp luật. Phù hợp với Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 được sửa đổi bổ sung năm 2010.
Xét yêu cầu xin được ly hôn của anh V cho thấy vợ chồng anh chị chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, anh V cho rằng Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, có lối sống không phù hợp, vợ chồng thường cự cãi nhau dẫn đến cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc và vợ chồng không sống chung với nhau từ cuối năm 2022 cho đến nay không liên lạc gì với nhau.
Sau khi thụ lý vụ án, tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ, nhưng chị N không đến Tòa án để tham gia tố tụng, vắng mặt không có lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến và chị N cũng không có bất cứ văn bản nào thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của anh V. Tại phiên tòa anh V vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn. Theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “ Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau....”. Xét thấy thực tế giữa anh V và chị N không có tiếng nói chung trong cuộc sống, không sống chung với nhau đến nay đã một thời gian dài, không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, chia sẻ với nhau trong cuộc sống, không ai có ý muốn hàn gắn mối quan hệ vợ chồng, việc đó cho thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của anh V.
Về quan hệ con chung: anh V xác nhận anh và chị N có 02 con chung là Huỳnh Thị Kim T, sinh năm 1997 và Huỳnh Thị Kim N1, sinh năm 2004 các cháu đã đủ tuổi trưởng thành, phát triển bình thường, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: anh V xác nhận anh và chị N không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí HNST: Buộc anh V phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ các Điều 28, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ các Điều 9, 19, 51, 56, 57, 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Huỳnh Thanh V. Cho ly hôn giữa anh Huỳnh Thanh V và chị Phan Thị Kim N.
2. Về quan hệ hôn nhân: các cháu Huỳnh Thị Kim T, sinh năm 1997 và Huỳnh Thị Kim N1, sinh năm 2004 đã đủ tuổi trưởng thành, phát triển bình thường, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc anh Huỳnh Thanh V phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo lai thu số 0002491 ngày 04/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tân Hiệp; - Chi cục THADS huyện Tân Hiệp; - TAND tỉnh Kiên Giang; - UBND xã T; - Các đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Ngọc Ái |