vanban.org

Bản án 30/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Bà Lê Phương B được ly hôn ông Võ Thành X.

Về con chung: Giao cháu Võ Quốc L, sinh ngày 04-9-2009 cho bà Lê Phương B nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi đủ trưởng thành (18 tuổi). Giao cháu Võ Quốc H, sinh ngày 29-5-2011 cho ông Võ Thành X nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi đủ trưởng thành (18 tuổi). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LE PHUONG B - VO THANH X - Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Lê Phương B được ly hôn ông Võ Thành X.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Số: 30/2023/HNGĐ-ST
Ngày 15-5-2023
“V/v Ly hôn; Nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Kim Ngân

Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang

2. Ông Nguyễn Phước Lộc

Thư ký phiên toà: Ông Phạm Ngọc Chí - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Chung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia và đình thụ lý số: 15/2023/TLST

- HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2023 về việc:“Ly hôn; Nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 07 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 27 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

1- Nguyên đơn: Bà Lê Phương B, sinh năm 1985, (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Hẻm 118 đường Trần Hưng Đạo, Khu Phố 7, phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

2- Bị đơn: Ông Võ Thành X, sinh năm 1972 (Vắng mặt lần thứ hai)

Địa chỉ: Hẻm 118 đường Trần Hưng Đạo, Khu Phố 7, phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10 tháng 11 năm 2022, các lời khai có trong hồ sơ nguyên đơn bà Lê Phương B trình bày:

Bà Lê Phương B và ông Võ Thành X tìm hiểu và tự nguyện yêu thương nhau, được sự đồng ý của hai bên gia đình tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Dương Đông (nay là phường Dương Đông) ngày 18-8-2009.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc và có với nhau hai con chung là cháu Võ Quốc L, sinh năm 2009 và cháu Võ Quốc H, sinh năm 2011.

Thời gian gần đây vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, bất đồng ý kiến với nhau trong cuộc sống, thường xuyên cãi nhau làm rạn nứt tình cảm, vì thương các con nên vợ chồng nhiều lần hàn gắn quan hệ nhưng không được mà mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Hiện nay vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau.

Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân trầm trọng, hạnh phúc không đạt được. Bà B yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề như sau:

Về hôn nhân: Bà B yêu cầu ly hôn với ông Võ Thành X.

Về con chung: Vợ chồng có với nhau hai con chung là Võ Quốc L, sinh năm 2009 và cháu Võ Quốc H, sinh năm 2011. Nay các con đã lớn muốn sống với ai thì người đó có trách nhiệm nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà B không yêu cầu ông X phải cấp dưỡng nuôi con cùng.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng cam kết không nợ ai, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Võ Thành X đã được Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc triệu tập hợp lệ nhiều lần để lấy lời khai, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt. Mặc dù ông X có mặt tại chỗ ở hiện nay, nhưng vẫn cố tình lánh mặt, không tham gia tố tụng tại Tòa án. Do đó, Tòa án không thể tiến hành ghi lời khai, công khai chứng cứ và hòa giải được.

* Cháu Võ Quốc L ý kiến tại bản thể hiện nguyện vọng ngày 23-3-2023 như sau: Cháu là con của mẹ Lê Phương B, cha là Võ Thành X. Nay bà B, ông X ly hôn cháu L có nguyện vọng được ở với mẹ, đây là nguyện vọng chính đáng của cháu.

* Cháu Võ Quốc H ý kiến tại bản thể hiện nguyện vọng ngày 23-3-2023 như sau: Cháu là con của mẹ Lê Phương B, cha là Võ Thành X. Nay bà B, ông X ly hôn cháu H có nguyện vọng được ở với cha, đây là nguyện vọng chính đáng của cháu.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa như sau:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự và những người tham dự phiên tòa đều tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay bà B có đơn xin xét xử vắng mặt, ông X vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp tại điểm b, khoản 2 Điều 227; Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho bà B được ly hôn với ông X.

Về con chung: Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình giao cháu L cho bà B chăm sóc, nuôi dưỡng đến đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi), giao cháu H cho ông X chăm sóc, nuôi dưỡng đến đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con bà B, ông X không yêu cầu, đề nghị miễn xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu, đề nghị miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Phương B là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông Võ Thành X là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227; Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà B, ông X là phù hợp.

Về hôn nhân: Bà Lê Phương B và ông Võ Thành X xin đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn Dương Đông, huyện Phú Quốc (nay là phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc) cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 18-8-2009, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa bà B, ông X là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật HNGĐ năm 2014.

Quá trình giải quyết vụ án bà B xác định bà không thể tiếp tục chung sống với ông X, vì giữa vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, không thể hàn gắn với nhau được, tình trạng hôn nhân trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà B yêu cầu được ly hôn với ông X.

Xét yêu cầu của bà B, Hội đồng xét xử thấy rằng, việc bà B xác định khi sống chung với ông X giữa vợ chồng có nhiều mâu thuẫn là phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương nơi bà B, ông X sinh sống thì được biết bà B, ông X thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bà B cho ông X nhiều cơ hội để sửa chữa, nhưng không thay đổi được, vợ chồng đã sống ly thân với nhau đã lâu. Do đó, căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà B và quan điểm đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát chấp nhận cho bà B được ly hôn với ông X là phù hợp.

Về con chung: Bà B, ông X sống chung sinh được hai người con là cháu Võ Quốc L và cháu Võ Quốc H.

Xét nguyện vọng của cháu L muốn được sống với bà B và bà B cũng muốn được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L đến tuổi trường thành (18 tuổi). Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu L cho bà B chăm sóc, nuôi dưỡng đến đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi) là phù hợp.

Xét nguyện vọng của cháu H muốn được sống với ông X. Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu H cho ông X chăm sóc, nuôi dưỡng đến đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi) là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không ai có yêu cầu, Hội đồng xét xử miễn xét.

Không ai có quyền ngăn cản việc thăm nom và chăm sóc con chung. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: Bà B không yêu cầu, Hội đồng xét xử miễn xét.

Về nợ chung: Bà B xác định không có nợ chung, Hội đồng xét xử miễn xét.

Về án phí: Bà B phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng các Điều 28; 39; 147; 227; 228; 238; 266; 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 9; 51; 56; 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Áp dụng khoản 5 Điều 27, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Bà Lê Phương B được ly hôn ông Võ Thành X.

2. Về con chung: Giao cháu Võ Quốc L, sinh ngày 04-9-2009 cho bà Lê Phương B nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi đủ trưởng thành (18 tuổi).

Giao cháu Võ Quốc H, sinh ngày 29-5-2011 cho ông Võ Thành X nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi đủ trưởng thành (18 tuổi).

Về cấp dưỡng: Không ai có yêu cầu, Hội đồng xét xử miễn xét.

Không ai được quyền ngăn cản quyền gặp gỡ thăm và chăm sóc con chung.Vì lợi ích về mọi mặt của con, khi cần thiết có thể thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung: Bà B không yêu cầu, Hội đồng xét xử miễn xét.

4. Về nợ chung: Bà B xác định không có nợ chung, Hội đồng xét xử miễn xét.

5. Về án phí: Bà Lê Phương B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm 300.000 đồng. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0000860 ngày 29-12-2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, bà B đã thực hiện xong.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành ánh án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Bà B, ông X vắng mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú) để xin xét xử phúc thẩm tại Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

Cỡ chữ