vanban.org

Bản án 30/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngU đơn

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị X được ly hôn với ông Lê Ngọc Đ. Về con chung: Bà Nguyễn Thị X có quyền và nghĩa vụ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 người con chung là cháu Lê Ngọc Phương U -sinh ngày 26/11/2011 và cháu Lê Ngọc Hoàng P-sinh ngày 27/6/2016. Ông Lê Ngọc Đ không phải cấp dưỡng nu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngU đơn
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 21/4/2023
V/v:"Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NINH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Ngọc Minh.

2. Bà Lê Thị Hường.

-Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quen -Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hương –Kiểm sát viên.

Ngày 21/4/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 312/2022/TLST-HNGĐ, ngày 14/10/2022 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/3/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2023/QĐHNGĐ-ST ngày 12/4/2023 giữa các đương sự:

-NgU đơn: Bà Nguyễn Thị X –sinh năm:1992 (có mặt)

-Bị đơn: Ông Lê Ngọc Đ –sinh năm: 1988 (vắng mặt)

Cùng hộ khẩu thường trú tại: Thôn A, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa ngU đơn bà Nguyễn Thị X trình bày: Bà và ông Lê Ngọc Đ tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận vào năm 2011. Quá trình vợ chồng chung sống không hạnh phúc, ông Đ không lo làm ăn, suốt ngày đam mê cờ bạc gây ra nợ nần và thế chấp tài sản trong nhà. Bà có khU can nhưng ông Đ không nghe mà còn chửi mắng hâm dọa bà. Năm 2019, bà có làm đơn đến Tòa yêu cầu giải quyết ly hôn nhưng ông Đ hứa sẽ sửa đổi và cũng vì con nhỏ nên bà mới rút đơn. Tuy nhiên về nhà ông Đ vẫn chứng nào tật nấy, không chịu sửa đổi. Từ tháng 10 năm 2022, bà và ông Đ đã sống ly thân cho đến nay, không quan tâm gì đến nhau. Hiện bà không còn tình cảm với ông Đ nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đ.

Về con chung có 02 người con tên Lê Ngọc Phương U -sinh ngày 26/11/2011 và Lê Ngọc Hoàng P -sinh ngày 27/6/2016. Trong khoảng thời gian vợ chồng sống ly thân thì các con sống cùng với bà. Khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi các con, không cần ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết.

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai ông Lê Ngọc Đ có ý kiến: Ông đồng ý với bà Nguyễn Thị X về thời điểm kết hôn và về con chung. Ông thừa nhận có ham chơi cờ bạc và cá độ đá banh gây ra nợ nần, hiện vợ chồng đang sống ly thân, tuy nhiên ông đã biết lỗi và mong vợ tha thứ. Ông mong muốn vợ chồng được về sống đoàn tụ với nhau. Trường hợp nếu phải ly hôn thì ông đồng ý để cho bà Nguyễn Thị X được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung là Lê Ngọc Phương U -sinh ngày 26/11/2011 và Lê Ngọc Hoàng P -sinh ngày 27/6/2016, ông sẽ cấp dưỡng nuôi con chung nếu bà X yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu.

Chính quyền địa phương thôn An Thạnh 2, xã A, huyện N -Nơi vợ chồng ông Đ, bà X sinh sống xác nhận: ông Đ, bà X chung sống có xảy ra nhiều mâu thuẫn do ông Đ cờ bạc, cá độ. Vợ chồng đang sống ly thân, không qua lại với nhau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N P biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử (HĐXX) nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và thư ký phiên tòa luôn tuân theo pháp luật tố tụng; NgU đơn luôn chấp hành pháp luật. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng Tòa án đã thực hiện tống đạt thủ tục tố tụng theo quy định và xét xử vắng mặt bị đơn là đúng pháp luật. Về nội dung: đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngU đơn. Về hôn nhân bà X được ly hôn với ông Đ. Khi ly hôn giao 02 người con Lê Ngọc Phương U-sinh ngày 26/11/2011, Lê Ngọc Hoàng P-sinh ngày 27/6/2016 cho bà X nuôi dưỡng, ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, P biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Ông Lê Ngọc Đ vắng mặt không có lý do tại phiên tòa sơ thẩm ngày 12/4/2023 và phiên tòa sơ thẩm ngày 21/4/2023, mặc dù đã được tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ. Căn cứ điểm b khoản 2 điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị X và ông Lê Ngọc Đ được kết hợp trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 96, quyển số 02 ngày 09/9/2011 của Ủy ban nhân dân xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận, nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai ngày 02/01/2023, ông Lê Ngọc Đ thừa nhận do ham chơi cò bạc, cá độ đá banh gây ra nợ nần, không quan tâm vợ con. Bản thân ông biết lỗi, mong bà X tha thứ. Nhưng qua hai lần mở phiên tòa, ông Đ đều vắng mặt không có lý do. Cho thấy ông Đ không mong muốn hàn gắn lại tình cảm với bà X. Ngoài ra vợ chồng đã sống ly thân gần một năm, không quan tâm đến nhau, mặc ai người nấy sống.

Xét thấy, hôn nhân của vợ chồng bà X, ông Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà X.

Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của vợ chồng bà X, ông Đ về việc nuôi con chung. Giao 02 người con tên Lê Ngọc Phương U -sinh ngày 26/11/2011 và Lê Ngọc Hoàng P -sinh ngày 27/6/2016 cho bà X trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà X không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về thủ tục tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân luôn tuân theo pháp luật tố tụng; NgU đơn luôn chấp hành pháp luật. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng Tòa án đã thực hiện tống đạt thủ tục tố tụng theo quy định và xét xử vắng mặt bị đơn là đúng pháp luật. Về nội dung vụ án: đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngU đơn. Giao con chung cho bà X nuôi dưỡng, ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung Không yêu cầu giải quyết.

Căn cứ vào những phân tích trên, xét thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

Về án phí: Bà X phải chịu án phí 300.000 đồng theo pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 56, Điều 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ: Khoản 4 Điều 147, Điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ: Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

TU xử:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngU đơn

2.Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị X được ly hôn với ông Lê Ngọc Đ.

3.Về con chung: Bà Nguyễn Thị X có quyền và nghĩa vụ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 người con chung là cháu Lê Ngọc Phương U -sinh ngày 26/11/2011 và cháu Lê Ngọc Hoàng P-sinh ngày 27/6/2016. Ông Lê Ngọc Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

4.Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

5.Về án phí: Bà Nguyễn Thị X phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002721 ngày 12/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N. Bà Nguyễn Thị X đã nộp đủ án phí.

6.Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm có mặt ngU đơn-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tU án; vắng mặt bị đơn-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày niêm yết bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ