vanban.org

Bản án 30/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lý Thị Sà R đối với bị đơn ông Nguyễn Cuối H.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lý Thị Sà R được ly hôn với ông Nguyễn Cuối H. Về con chung: Giao cho bà Lý Thị Sà R được quyền trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Lý Kim T1, sinh ngày 23/4/2012 và giao cho ông Nguyễn Cuối H được quyền trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Trọng P, sinh ngày 04/10/2008 cho đến … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lý Thị Sà R - Nguyễn Cuối H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lý Thị Sà R đối với bị đơn ông Nguyễn Cuối H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ XUYÊN
TỈNH SÓC TRĂNG
——————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27-3-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Anh Đức;

Bà Nguyễn Hồng Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện M tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn T - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 133/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lý Thị Sà R, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Số A đường Q, ấp S, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Cuối H, sinh năm 1979.

Địa chỉ: Số H Chợ N, ấp K, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

(Các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện về việc ly hôn ngày 27 tháng 9 năm 2022, nguyên đơn bà Lý Thị Sà R trình bày:

Bà Lý Thị Sà R và ông Nguyễn Cuối H kết hôn ngày 17/12/2007, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau được 14 năm. Đến cuối năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến, không hàn gắn được. Vợ chồng không còn sống chung với nhau từ ngày 22/01/2022 đến nay. Nay bà R yêu cầu ly hôn với ông H.

Về con chung: Bà R và ông H có 02 người con chung là Nguyễn Trọng P, sinh ngày 04/10/2008, hiện đang sống chung với ông H và Nguyễn Lý Kim T1, sinh ngày 23/4/2012, hiện đang sống chung với bà R. Khi ly hôn bà R yêu cầu con mỗi người nuôi 01 đứa.

Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Đối với bị đơn ông Nguyễn Cuối H: Toà án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, nhưng ông Nguyễn Cuối H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, cũng không nộp văn bản thể hiện ý kiến cho Toà án.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 22 tháng 11 năm 2022, con chung Nguyễn Lý Kim T1 trình bày ý kiến: Khi cha mẹ ly hôn không còn sống chung với nhau, cháu có nguyện vọng sống với mẹ là bà Lý Thị Sà R.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 17 tháng 3 năm 2023, con chung Nguyễn Trọng P trình bày ý kiến: Khi cha mẹ ly hôn không còn sống chung với nhau, cháu có nguyện vọng sống với cha là Nguyễn Cuối H.

- Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý, xét xử vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên xử bà R được ly hôn với ông H. Về con chung: Đề nghị giao cho ông H được quyền trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Trọng P, sinh ngày 04/10/2008 và giao con chung Nguyễn Lý Kim T1, sinh ngày 23/4/2012 cho bà Lý Thị Sà R trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà R và ông H không yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét và đề nghị tuyên về án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bà Lý Thị Sà R và ông Nguyễn Cuối H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Bà R có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, ông H vắng mặt, không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bà R và ông H.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Cuối H và bà Lý Thị Sà R tự nguyện kết hôn vào năm 2007, có đăng ký kết hôn ngày 17/12/2007 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng nên quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Cuối H và bà Lý Thị Sà R là hôn nhân hợp pháp.

Xét lý do yêu cầu ly hôn của bà Lý Thị Sà R: Theo đơn khởi kiện, bà R xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, bà không còn tình cảm gì với ông H và cương quyết yêu cầu được ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy, bà R và ông H đã không còn chung sống với nhau từ tháng 01 năm 2022 cho đến nay do bất đồng ý kiến, không hàn gắn được. Do đó có đủ cơ sở xác định mâu thuẫn giữa bà R và ông H đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, không còn khả năng đoàn tụ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà R là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Bà R và ông H có 02 con chung là Nguyễn Trọng P, sinh ngày 04/10/2008, hiện đang sống chung với ông H và Nguyễn Lý Kim T1, sinh ngày 23/4/2012, hiện đang sống chung với bà R. Xét thấy, cháu P đang sống chung với ông H và có nguyện vọng sống với ông H. Cháu T1 có nguyện vọng sống với bà R, hiện nay cháu T1 cũng đang sống chung với bà R. Bà R cũng yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi cháu T1, bà R đồng ý nhường quyền nuôi cháu P cho ông H. Hội đồng xét xử căn cứ theo nguyện vọng của con chung và nhằm để ổn định cuộc sống hiện tại, không làm ảnh hưởng đến cuộc sống, việc học của con chung thì cần thiết giao con chung Nguyễn Trọng P cho ông H và giao cháu T1 cho bà R trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Bà R và ông H được quyền thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông H và bà R không có yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà R và ông H không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà R phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, Điều 218, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lý Thị Sà R đối với bị đơn ông Nguyễn Cuối H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lý Thị Sà R được ly hôn với ông Nguyễn Cuối H.

2. Về con chung: Giao cho bà Lý Thị Sà R được quyền trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Lý Kim T1, sinh ngày 23/4/2012 và giao cho ông Nguyễn Cuối H được quyền trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Trọng P, sinh ngày 04/10/2008 cho đến khi con chung Nguyễn Lý Kim T1 và Nguyễn Trọng P đủ 18 tuổi. Bà Lý Thị Sà R và ông Nguyễn Cuối H được quyền thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Lý Thị Sà R và ông Nguyễn Cuối H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lý Thị Sà R và ông Nguyễn Cuối H không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí: Bà Lý Thị Sà R phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà đã nộp theo biên lai thu Tạm ứng án phí, Lệ phí Toà án số 0005544 ngày 06/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên. Bà Lý Thị Sà R đã nộp xong.

6. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

7. Về việc thi hành án: Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ