vanban.org

Bản án 30/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông Nguyễn Quốc D ly hôn với Võ Thị Huỳnh T"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Luật Thi hành án dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2023/HNGĐ-ST
Ngày 25-5-2023
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông LÊ VĂN XÔ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông NGUYỄN THANH PHƯƠNG;

Ông LA MINH CÔNG.

- Thư ký phiên toà: Bà NGUYỄN THỊ THANH NHI – Thư ký Toà án nhân dân huyện H – tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện H – tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà PHẠM THỊ RI – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 446/2022/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

Ông Nguyễn Quốc D, sinh năm 1987

Địa chỉ: thôn X, xã Y, huyện H, tỉnh Bình Thuận. (Có mặt)

2. Bị đơn:

Bà Võ Thị Huỳnh T, sinh năm 1995

Địa chỉ: khu phố I, thị trấn Z, huyện H, tỉnh Bình Thuận.(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Nguyên đơn ông Nguyễn Quốc D trình bày:

Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên ông yêu cầu Toà án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Võ Thị Huỳnh T.

Về con chung: Ông Nguyễn Quốc D và bà Võ Thị Huỳnh T không có con chung.

Về tài sản chung: Ông Nguyễn Quốc D không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Ông Nguyễn Quốc D không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết bà Võ Thị Huỳnh T không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án và không cung cấp văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.

Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hôm nay bà Võ Thị Huỳnh T vắng mặt.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng và đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Qua lời khai của đương sự và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xét thấy ông Nguyễn Quốc D yêu cầu ly hôn, nuôi con là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên, các quy định của pháp luật, Tòa án nhận định:

[1] Đơn khởi kiện ghi ngày 17/10/2022 của ông Nguyễn Quốc D được gửi trực tiếp đến Tòa án nhân dân huyện H, có hình thức và nội dung theo quy định tại Điều 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Ông Nguyễn Quốc D yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà Võ Thị Huỳnh T. Người bị kiện là bà Võ Thị Huỳnh T có địa chỉ tại huyện H, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện H đã thụ lý và đưa ra giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về việc xét xử vắng mặt: Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2023 thì vụ án trên sẽ được đưa ra xét xử vào ngày 04/5/2023. Tuy nhiên, bà Võ Thị Huỳnh T vắng mặt nên Hội đồng xét xử cho hoãn phiên tòa và ấn định ngày xét xử tiếp theo là vào ngày 25/5/2023. Các Quyết định trên đã được Tòa án tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa ngày 25/5/2023 bà Võ Thị Huỳnh T tiếp tục vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Võ Thị Huỳnh T theo thủ tục quy định của pháp luật.

[4] Về yêu cầu ly hôn: Ông Nguyễn Quốc D và bà Võ Thị Huỳnh T tự nguyện sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Theo trình bày của ông Nguyễn Quốc D trong quá trình chung sống với nhau vợ chồng thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn, bất đồng. Vợ chồng đã sống ly thân, không còn liên lạc cũng như không còn tình cảm gì với nhau.

Trong quá trình giả quyết vụ án đến thời điểm mở phiên tòa xét xử vụ án ông Nguyễn Quốc D vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với bà Võ Thị Huỳnh T. Quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành tống đặt, niêm yết các văn bản tố tụng cũng như giấy triệu tập hợp lệ cho bà Võ Thị Huỳnh T. Tuy nhiên, đến thời điểm mở phiên tòa xét xử vụ án bà Võ Thị Huỳnh T vẫn không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án, không đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải, phiên tòa. Điều này chứng tỏ bà Võ Thị Huỳnh T cũng không có thiện chí mong muốn hàn gắn tình cảm với ông Nguyễn Quốc D và đồng thời từ bỏ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình.

Hội đồng xét xử xét thấy, hai bên đương sự đã không còn sống chung với nhau từ tháng 6 năm 2022 đến nay. Trong khoảng thời gian đó, giữa ông Nguyễn Quốc D và bà Võ Thị Huỳnh T không hóa giải được những bất đồng mâu thuẫn để có thể hàn gắn tình cảm tiếp tục chung sống với nhau. Như vậy, có căn cứ để xác định tình trạng của vợ chồng ông Nguyễn Quốc D và bà Võ Thị Huỳnh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Quốc D.

[5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, ông Nguyễn Quốc D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 266, Điều 269, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 57 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014; Luật thi hành án dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Quốc D.

Ông Nguyễn Quốc D được ly hôn với bà Võ Thị Huỳnh T.

2. Về án phí:

Ông Nguyễn Quốc D phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn với số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0006645 ngày 17 tháng 10 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện H, như vậy ông Nguyễn Quốc D đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án. Nơi nhận:

Cỡ chữ