vanban.org

Bản án 30/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử cho chị Phạm Thị H ly hôn anh Lê Hồng Ph.

Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm mà chị H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B theo biên lai số AA/2021/00002536 ngày 09/10/2023 thành án phí ly hôn sơ thẩm mà chị H phải nộp. (Chị H đã thi hành xong án phí … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 32/2023/TLST - HNGĐ ngày 09/10/2023"
  • Tòa quyết gì? Xử cho chị Phạm Thị H ly hôn anh Lê Hồng Ph.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2023/HNGĐ-ST
Ngày:19/12/2023
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Trần Anh Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Thật và bà Nguyễn Thị Thúy Lan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bảy – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Tình – Kiểm sát viên.

Trong ngày 19/12/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 32/2023/TLST - HNGĐ ngày 09/10/2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/11/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2023/QĐST-HNGĐ ngày 30/11/2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1982; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, huyện T, thành phố Hà Nội. (có mặt)

2. Bị đơn: Anh Lê Hồng Ph, sinh năm 1978; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn x, xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam. (vắng mặt)

3. Những người làm chứng: Ông Lê Hồng Ph1, sinh năm 1950 và bà Phạm Thị Ng, sinh năm 1954; đều cư trú tại: Thôn x, xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1] Tại đơn khởi kiện đề ngày 03/10/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - chị Phạm Thị H trình bày:

1.1. Về hôn nhân: Chị và anh Lê Hồng Ph tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 09/3/2007 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam.

Sau ngày cưới vài năm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị không có khả năng sinh con, vợ chồng đã đưa nhau đi khám và điều trị ở nhiểu nơi nhưng không có kết quả. Từ đó anh Ph chán nản và có biểu hiện quan hệ ngoại tình với người khác, thường xuyên lấy lý do đi làm để không về nhà trong nhiều ngày, tình cảm vợ chồng ngày càng trở nên lạnh nhạt. Từ tháng 02/2017 do không chịu đựng nổi việc anh Ph đối xử lạnh nhạt với mình nên chị H đã về nhà bố mẹ đẻ chị ở; hai người không gặp nhau mà chỉ nói chuyện qua điện thoại nhưng không giải quyết được mâu thuẫn. Từ cuối năm 2022, qua điện thoại chị nhiều lần đề nghị ly hôn nhưng anh Ph không đồng ý. Chị xác định việc anh Ph không đồng ý ly hôn và không tham giải quyết ly hôn tại Tòa án không phải vì anh Ph còn tình cảm vợ chồng với chị mà chỉ để gây khó khăn cho chị trong việc giải quyết ly hôn.

Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn; hai người không còn khả năng đoàn tụ do vậy chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện B giải quyết cho chị được ly hôn anh Phương để sớm ổn định cuộc sống.

1.2. Về con chung: Chị xác định vợ chồng không có con chung và hiện tại chị không có thai nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

1.3. Về tài sản riêng của mỗi người; tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng (bao gồm công nợ, tài sản công sức, đất nông nghiệp trồng cây hàng năm); trợ cấp khó khăn sau ly hôn: Chị xác định không có và tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra chị H không còn ý kiến gì khác.

[2] Bị đơn - anh Lê Hồng Phương không tham gia tố tụng giải quyết việc ly hôn tại Tòa án nên không có quan điểm trình bày.

[3] Tại phiên tòa, nguyên đơn - chị Phạm Thị Hạnh giữ nguyên quan điểm như đã trình bày như đã nêu tại phần [1].

[4] Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện B có quan điểm:

* Về tố tụng, TAND huyện B thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền; quá trình giải quyết vụ án tại toà và xét xử tại phiên toà, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

* Về giải quyết vụ án; đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội khóa 13 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án;

- Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Phạm Thị Hh. Xử cho chị Phạm Thị H ly hôn anh Lê Hồng Ph.

- Về con chung: Chị H và anh Ph không có con chung.

- Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp, trợ cấp khó khăn, đất nông nghiệp trồng cây hàng năm: Chị H tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Ph không có quan điểm vì không tham gia tố tụng.

- Án phí ly hôn sơ thẩm: Đương sự phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

I. Về tố tụng: Hội đồng xét xử thấy đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn”; bị đơn – anh Lê Hồng Ph đăng ký thường trú tại thôn x, xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam do vậy Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam thụ lý giải quyết là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét thấy anh Ph đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Ph là đúng quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

II. Về giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Lê Hồng Ph tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 09/3/2007 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam; trước khi cưới được tự nguyện tìm hiểu. Sau ngày cưới vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến khoảng cuối năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh chị khó khăn trong việc có con nhưng vợ chồng không biết chia sẻ, động viên nhau. Sau đó anh Ph lấy lý do công việc mà thường xuyên xa nhà dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt, cuối cùng là hai người không còn nói chuyện được với nhau. Tháng 02/2017 chị H về nhà bố mẹ đẻ sinh sống; anh Ph cũng không tìm đón, chị H cũng bỏ mặc; hai người sống ly thân và chấm dứt quan hệ vợ chồng từ đó đến nay.

Hội đồng xét xử xét thấy: Qua bố mẹ đẻ anh Ph là ông Ph1, bà Ng thì anh Ph được Tòa án thông báo, được triệu tập và đã biết việc Tòa án nhân dân huyện B đang thụ lý giải quyết đơn ly hôn của chị H nhưng anh Ph không tham gia tố tụng để trình bày quan điểm về việc chị H kiện ly hôn. Việc làm này của anh Ph thể hiện sự bỏ mặc và gây khó khăn cho chị H trong việc giải quyết ly hôn. Trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị H luôn có quan điểm mong muốn được ly hôn anh Ph. Xét trên thực tế anh chị đã chấm dứt cuộc sống chung từ tháng 02/2017 đến nay; anh Ph cố tình không tham gia tố tụng nên khả năng anh chị đoàn tụ về chung sống là không còn; Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của chị H; xử cho chị H ly hôn anh Ph là phù hợp với thực tế, đúng quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Phạm Thị H và anh Lê Hồng Ph không có con chung và chị H không yêu cầu giải quyết vấn đề này, anh Ph không tham gia tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết vấn đề này.

Về tài sản riêng của mỗi người, tài sản chung của vợ chồng, tài sản công sức, đất nông nghiệp trồng cây hàng năm (ruộng cấy), nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng (công nợ), trợ cấp khó khăn sau ly hôn: Do trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị H tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh Ph không tham gia tố tụng để trình bày quan điểm do vậy Hội đồng xét xử không giải quyết những vấn đề này. Nếu sau này chị H và anh Ph xảy ra tranh chấp về tài sản thì có quyền khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị H phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội khóa 13 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án;

1. Xử cho chị Phạm Thị H ly hôn anh Lê Hồng Ph.

2. Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng.

Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm mà chị H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B theo biên lai số AA/2021/00002536 ngày 09/10/2023 thành án phí ly hôn sơ thẩm mà chị H phải nộp. (Chị H đã thi hành xong án phí ly hôn sơ thẩm).

Báo cho chị H biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Báo cho anh Ph biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam.

Cỡ chữ