- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chi Vi Thị T ly hôn anh Lò A T"
- Tòa quyết gì? Xử cho chị Vi Thị T được ly hôn anh Lò A T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30 /2023/HNGĐ – ST Ngày 29 tháng 9 năm 2023. “ V/v Ly hôn,tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Duy Chiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà: Hoa Thị Vân;
2. Bà: Vũ Thị Thúy Bình;
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Quý Sửu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 68/2023/TLST - HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2023/QĐST – HNGĐ ngày 14/9/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Vi Thị T, sinh ngày 12/7/1984.
Nơi cư trú: Thôn L, xã Q, huyện B, tỉnh Lào Cai.
Có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Lò A T, sinh ngày 30/12/1977.
Nơi cư trú: Thôn L, xã Q, huyện B, tỉnh Lào Cai.
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện nộp Tòa án ngày 26/7/2023 và trong quá trình Tòa án giải quyết, nguyên đơn chị Vi Thị T trình bày:
Chị và anh Lò A T kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn ngày 17/03/2003 tại ủy ban nhân dân xã Quang Kim, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Sau ngày cưới vợ chồng sống hạnh phúc, trong quá trình chung sống thì anh Lò A T nghiện chất ma túy, sau khi nghiện đã được gia đình khuyên giải nhưng anh Tỉn không từ bỏ được, tính đến nay đã ba lần đi cai nhưng không thành. Đến nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng, chị đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn.
Về con: Trong thời gian chung sống vợ chồng chị sinh được hai con, cháu thứ nhất Lò A Tuyến, sinh ngày 07/9/2004, cháu thứ hai Lò Văn Đường, sinh ngày 13/10/2006. Hiện nay cháu Lò A Tuyến đã đủ 18 tuổi, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, đối với cháu Lò A Đường khi ly hôn chị xin nuôi, chị không yêu cầu anh Lò A T cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong thời gian chung sống vợ chồng không nợ ai và không cho ai vay.
Đối với bị đơn là anh Lò A T, do anh thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú, vì vậy không tống đạt trực tiếp được, Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng theo qui định của pháp luật nhưng anh Tỉn không đến và cũng không nộp tài liệu chứng cứ gì.
Do anh T không đến Tòa án, vì vậy Tòa án không tiến hành hòa giải được, mặt khác chị T có đơn đề nghị Tòa án không hòa giải, vì vậy, vụ án này không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên toà: Kiểm sát viên có quan điểm:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vi Thị T được ly hôn anh Lò A T.
Về con chung: Giao cháu Lò Văn Đường, sinh ngày 13/10/2006 cho chị Vi Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Anh Lò A T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh Lò A`` T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, chị Vi Thị T phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về Thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Lò A T có địa chỉ tại huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Tòa án nhân dân huyện Bát Xát thụ lý vụ án là phù hợp với khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Chị Vi Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Lò A T vắng mặt lần hai không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Vi Thị T và anh Lò A T.
Chị Vi Thị T và anh Lò A T kết hôn với nhau có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã Quang K, huyện B, tỉnh Lào Cai theo giấy chứng nhận kết hôn số 12/2003, ngày 17/3/2003 trên cơ sở tự nguyện, như vậy hôn nhân này là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ và công nhận.
Xét đối với yêu cầu của nguyên đơn:
Chị Vi Thị T và anh Lò A T sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc, trong quá trình chung sống thì anh Lò A T nghiện chất ma túy, sau khi nghiện đã được gia đình khuyên giải nhưng anh Tỉn không từ bỏ được, tính đến nay đã ba lần đi cai nhưng không thành, nay anh Lò A T thường xuyên vắng mặt tại địa phương, chính quyền địa phương nơi vợ chồng chị Tắng cư trú cũng xác nhận việc vợ chồng chị Vi Thị T và anh Lò A T có mâu thuẫn như ở trên và hiện tại anh Tỉn thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú. Xét thấy mâu thuẫn của chị Tắng và anh Tỉn là có thật, mâu thuẫn của vợ chồng, do chị Tắng cung cấp phù hợp với nội dung xác nhận của chính quyền địa phương. Nay chị Tắng xin ly hôn là có căn cứ, chấp nhận yêu cầu của chị Vi Thị T, áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xử cho chị Vi Thị T đựợc ly hôn anh Lò A T.
Về con: Trong thời gian chung sống vợ chồng chị sinh được hai con, cháu thứ nhất Lò A T, sinh ngày 07/9/2004, cháu thứ hai Lò Văn Đ, sinh ngày 13/10/2006. Hiện nay cháu Lò A T đã đủ 18 tuổi, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Tòa án không giải quyết.
Đối với cháu Lò A Đ khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi cháu. Xét thấy anh Lò A T thường xuyên vắng tại nơi cư trú, thỉnh thoảng mới về, từ khi thụ lý vụ án anh Lò A T không đến và không có văn bản trả lời, mặt khác khi Tòa án hỏi ý kiến thì cháu Lò Văn Đ, thì cháu có nguyện vọng muốn ở với mẹ, thu nhập hàng tháng của chị T là lao động tự do là 150.000 đồng/ngày đến 200.000 đồng / ngày, vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, giao cháu Đ cho chị T nuôi dưỡng đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi là phù hợp với Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về tiền cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Vi Thị T không yêu cầu anh Lò A T cấp dưỡng tiền nuôi con chung, vì vậy Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, chị Vi Thị T phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Xử cho chị Vi Thị T được ly hôn anh Lò A T.
2. Về con: Chị Vi Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lò Văn Đ, sinh ngày 13/10/2006 cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi.
Chị Vi Thị T không yêu cầu anh Lò A T cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh Lò A T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Vi Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai theo biên lai số 0002450 ngày 28 tháng 7 năm 2023.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự, có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TA tỉnh; - VKSND H. Bát Xát (2); - Đương sự (2); - UBND xã Quang Kim; - THA DS; - Lưu TA,VP,HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Duy Chiến Hoàng Duy Chiến |