- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 30/2023/HNGĐ-ST Ngày: 09/02/2023 V/v “Tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn, nuôi con chung, nợ chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A - TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thảo Ngân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Hoàng Nghiệp;
2. Ông Phan Phước Tân.
- Thư ký phiên toà: Bà Triệu Thị Bình – Thư ký Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà Mi – Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện A mở xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 544/2022/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp xin ly hôn, nợ chung, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ 24, ấp B, xã N, huyện A, tỉnh An Giang;
Bị đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1974; địa chỉ: Tổ 24, ấp B, xã N, huyện A, tỉnh An Giang.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng chính sách và xã hội huyện A, tỉnh An Giang. Địa chỉ: ấp P, xã H, huyện A, tỉnh An Giang.
(Bà H có mặt; còn lại vắng mặt có đơn)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu kèm theo bà Nguyễn Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông T là tự tìm hiểu về sống chung vợ chồng vào năm 2000, không có tổ chức lễ cưới và không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng thời gian gần đây thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Ông T có hành vi bạo lực gia đình, thường xuyên vô cớ đánh và còn dùng những lời lẽ thô tục xúc phạm bà. Gia đình hai bên đã khuyên ngăn nhưng không có kết quả, nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn, đời sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T.
- Về con chung: Có 03 (ba) con chung tên Trần Văn U, sinh ngày 10/9/2001; Trần Văn O, sinh ngày 20/11/2003; Trần Văn Toàn E, sinh ngày 20/5/2011. Hiện nay, cháu Trần Văn U, cháu Trần Văn O đã trưởng thành có công việc ổn định tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Cháu Trần Văn Toàn E hiện nay đang sống cùng với ông T, khi ly hôn bà H đồng ý để ông T tiếp tục nuôi dạy cháu Em và bà không cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Vào năm 2019, vợ chồng vay của Ngân hàng chính sách xã hội huyện A số tiền 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng để làm vốn mua bán. Sau khi ly hôn bà H yêu cầu ông T có trách nhiệm liên đới trả nợ chung theo quy định pháp luật.
Bị đơn ông Lê Văn T trình bày: Thống nhất lời trình bày của bà H về hôn nhân, con chung và nợ chung. Ông đồng ý cùng bà H chịu ½ số nợ của Ngân hàng chính sách và xã hội huyện A.
Cháu Trần Văn Toàn E có văn bản trình bày ý kiến: Ông T là cha ruột, bà H là mẹ ruột của cháu. Hiện cháu đang học lớp 6A4 trường trung học cơ sở N. Hiện nay cha mẹ đã không còn sống chung với nhau và cháu đang ở với cha. Cha mẹ cháu xin ly hôn cháu không có ý kiến, nếu cha mẹ ly hôn cháu xin được tiếp tục ở với cha và không yêu cầu gì về mẹ.
Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.
Trong quá trình thụ lý, hòa giải Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt cho Ngân hàng chính sách và xã hội huyện A theo quy định nhưng đại diện Ngân hành chính sách vẫn không có mặt theo các thông báo của Tòa án và cũng không có văn bản trình bày ý kiến về vụ án.
Tại phiên tòa, bà H có mặt, ông T và đại diện Ngân hàng chính sách và xã hội huyện A có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong ghi lời khai, thủ tục xét xử vắng mặt, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng… là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về nội dung: Bà H và ông T không đăng ký kết hôn nên đề nghị tuyên không công nhận vợ chồng và chấp nhận nguyện vọng của cháu Trần Văn Toàn E được tiếp tục sống với cha. Về nợ chung: Ngân hàng chính sách vắng mặt không ghi nhận ý kiến nên không có căn cứ xem xét giải quyết, các bên sẽ khởi kiện thành vụ án khác khi có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp: Bà H chung sống với ông T đến nay thì không còn hạnh phúc nên bà khởi kiện yêu cầu được ly hôn và nuôi con chung, Tòa án thụ lý vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, nuôi con chung, nợ chung là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Ông T hiện có địa chỉ cư trú tại xã N, huyện A. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện A, An Giang.
Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hôn nhân: Bà H và ông T tự nguyện tìm hiểu, chung sống, có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn nên không được xem là hôn nhân hợp pháp, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên thụ lý, giải quyết theo Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình “Không đăng ký kết hôn mà yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng…”. Do đó, Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận bà H và ông T là vợ chồng.
Về con chung: Có 03 (ba) con chung tên Trần Văn U, sinh ngày 10/9/2001; Trần Văn O, sinh ngày 20/11/2003; Trần Văn Toàn E, sinh ngày 20/5/2011. Hiện nay, cháu Trần Văn U, cháu Trần Văn O đã trưởng thành có công việc ổn định tự nuôi sống bản thân nên nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Cháu Trần Văn Toàn E hiện nay đang sống cùng với ông T do ông ông T nuôi dạy.
Xét thấy, hiện cháu Trần Văn Toàn E do ông T nuôi dạy, chăm sóc, tình cảm cha con gắn bó, việc thay đổi chỗ ở và hoàn cảnh sống đột ngột sẽ ảnh hưởng đến tâm sinh lý và sự phát triển của các cháu sau này. Quan trọng hơn, cháu E có nguyện vọng được tiếp tục sống với ông T, bà H đồng ý để ông T tiếp tục nuôi dạy cháu E nên việc tiếp tục giao cháu E cho ông T nuôi dưỡng là phù hợp với hoàn cảnh hiện tại và quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng: Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, ông T không yêu cầu bà H cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện của ông T.
Hội đồng xét xử giải thích cho các đương sự biết: Ông T cùng các thành viên gia đình không được cản trở bà H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Nợ Ngân hàng chính sách xã hội huyện A số tiền 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, tuy ông bà đã thỏa thuận được trách nhiệm phần nợ chung nhưng do đại diện của Ngân hàng chính sách xã hội huyện A được tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không căn cứ xem xét, các đương sự sẽ khởi kiện thành vụ án khác khi có tranh chấp.
Về án phí: Bà H là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Các đương sự không phải chịu án phí nào khác.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 53, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 244, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 27, Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016;
Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.
1. Về hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị H và ông Lê Văn T là vợ chồng.
2. Về con chung: Ông Lê Văn T được tiếp tục nuôi cháu Trần Văn Toàn E, sinh ngày 20/5/2011. Công nhận tự nguyện của ông T không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con.
Ông T cùng các thành viên gia đình không được cản trở bà H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được chuyển từ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007998 ngày 22/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A (H đã nộp đủ). Ông T không phải chịu án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 09/02/2023) thời hạn kháng cáo của bà H và ông T được tính kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAT - VKSH - THAH - Các đương sự. - UBND xã; - Lưu vp - Lưu hs | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thảo Ngân |