vanban.org

Bản án 30/2023/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Q.

Buộc bà Thạch Thị B và ông Lê Văn Đ có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Q tổng số tiền hụi còn nợ của năm dây hụi là 560.000.000đồng (Năm trăm sáu mươi triệu đồng) và tiền lãi tổng cộng là 64.470.000 đồng (Sáu mươi bốn triệu bốn trăm bảy mươi nghìn đồng). Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng góp hụi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Q.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2023/DS-ST
Ngày: 05-5-2023.
“V/v Tranh chấp hợp đồng
góp hụi”

NHAÂN DANH

NÖÔÙC COÄNG HOAØ XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

TOAØ AÙN NHAÂN DAÂN HUYEÄN CHÂU THÀNH, TÆNH TRAØ VINH

Thaønh phaàn Hoäi ñoàng xeùt xöû sô thaåm goàm coù:

Thẩm Phán – Chủ Toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Thi Thị Thanh Trúc.

2/ Ông Đỗ Văn Chúc.

Thư ký phiên toà: Ông Dương Khởi - Thư Ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tham gia phên toà: Ông Trần Văn Thòn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 240/2022/TLST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2022 về: “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2023/QĐXX-DS ngày 03 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1967 (Có mặt).

Địa chỉ: ấp R, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Bị đơn: 1/ Bà Thạch Thị B, sinh năm 1968 (Vắng mặt).

2/ Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1966 (Vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

Cùng địa chỉ: ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Q, tại bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay bà Nguyễn Thị Q là nguyên đơn có lời trình bày như sau:

Bà có làm đầu thảo hụi và bà Thạch Thị B là hụi viên có tham gia các dây hụi cụ thể hai dây hụi như sau:

Dây hụi thứ nhất: Khui hụi vào ngày 03/11/2019âl dây hụi tháng, loại hụi 5.000.000đồng gồm 32 phần, mỗi tháng khui hụi một lần và tiền thảo cho mỗi lần khui hụi là 2.500.000đồng, trong dây hụi này bà B có tham gia một phần, bà B đóng được mười lần hụi sống đến ngày 03/8/202020âl bà B kêu số tiền 2.010.000đồng và được hốt hụi. Sau khi gom hụi bà đã giao cho bà B nhận số tiền là 110.290.000đồng đã trừ tiền thảo có giấy giao nhận hụi. Trong dây hụi này bà B phải có nghĩa vụ đóng lại cho bà 21 lần hụi chết, nhưng bà B không có đóng hụi chết cho bà cho đến nay, dây hụi đã mãn vào ngày 03 tháng 5 năm 2022

Nay bà yêu cầu bà B và ông Đ có nghĩa vụ trả cho bà số tiền hụi chết mà bà đã đóng choàng trong dây hụi này là 105.000.000đồng (Một trăm lẽ năm triệu đồng) và yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật từ ngày bà B không đóng hụi cho đến ngày Tòa án xét xử.

Dây hụi thứ hai: Khui hụi vào ngày 08/4/2019âl dây hụi tháng, loại hụi 5.000.000đồng gồm 34 phần, mỗi tháng khui hụi một lần và tiền thảo cho mỗi lần khui hụi là 2.500.000đồng, trong dây hụi này bà B có tham gia một phần, bà B đóng được năm lần hụi sống đến ngày 08/9/2019âl bà B kêu số tiền 2.220.000đồng và được hốt hụi. Sau khi gom hụi bà đã giao cho bà Bay nhận số tiền là 103.340.000đồng đã trừ tiền thảo có giấy giao nhận hụi. Trong dây hụi này bà B phải có nghĩa vụ đóng lại cho bà 28 lần hụi chết, nhưng bà B chỉ đóng cho bà được 12 tháng thì ngưng, bà đã đóng hụi chết cho bà B 16 lần là 80.000.000đồng, dây hụi đã mãn vào ngày 08 tháng 12 năm 2021

Nay bà yêu cầu bà B và ông Đ có nghĩa vụ trả cho bà số tiền hụi chết mà bà đã đóng choàng trong dây hụi này là 80.000.000đồng (Tám mươi triệu đồng) và yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật từ ngày bà B không đóng hụi cho đến ngày Tòa án xét xử.

Dây hụi thứ ba: Khui hụi vào ngày 17/9/2019âl dây hụi tháng, loại hụi 10.000.000đồng gồm 27 phần, mỗi tháng khui hụi một lần và tiền thảo cho mỗi lần khui hụi là 5.000.000đồng, trong dây hụi này bà B có tham gia một phần, bà B đóng được năm lần hụi sống đến ngày 17/02/2020âl bà B kêu số tiền 4.400.000đồng và được hốt hụi. Sau khi gom hụi bà đã giao cho bà B nhận số tiền là 162.600.000đồng đã trừ tiền thảo có giấy giao nhận hụi. Trong dây hụi này bà B phải có nghĩa vụ đóng lại cho bà 21 lần hụi chết, nhưng bà B chỉ đóng cho bà được 06 tháng thì ngưng, bà đã đóng hụi chết cho bà B 11 lần là 150.000.000đồng, dây hụi đã mãn vào ngày 17 tháng 10 năm 2021

Nay bà yêu cầu bà B và ông Đ có nghĩa vụ trả cho bà số tiền hụi chết mà bà đã đóng choàng trong dây hụi này là 150.000.000đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) và yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật từ ngày bà B không đóng hụi cho đến ngày Tòa án xét xử.

Dây hụi thứ tư: Khui hụi vào ngày 19/7/2019âl dây hụi tháng, loại hụi 5.000.000đồng gồm 34 phần, mỗi tháng khui hụi một lần và tiền thảo cho mỗi lần khui hụi là 2.500.000đồng, trong dây hụi này bà B có tham gia một phần, bà B đóng được hai lần hụi sống đến ngày 19/9/2019âl bà B kêu số tiền 1.910.000đồng và được hốt hụi. Sau khi gom hụi bà đã giao cho bà B nhận số tiền là 103.290.000đồng đã trừ tiền thảo có giấy giao nhận hụi. Trong dây hụi này bà B phải có nghĩa vụ đóng lại cho bà 31 lần hụi chết, nhưng bà B chỉ đóng cho bà được 11 tháng thì ngưng, bà đã đóng hụi chết cho bà B 20 lần là 100.000.000đồng, dây hụi đã mãn vào ngày 19 tháng 3 năm 2022

Nay bà yêu cầu bà B và ông Đ có nghĩa vụ trả cho bà số tiền hụi chết mà bà đã đóng choàng trong dây hụi này là 100.000.000đồng (Một trăm triệu đồng) và yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật từ ngày bà B không đóng hụi cho đến ngày Tòa án xét xử.

Dây hụi thứ năm: Khui hụi vào ngày 05/02/2020âl dây hụi tháng, loại hụi 5.000.000đồng gồm 33 phần, mỗi tháng khui hụi một lần và tiền thảo cho mỗi lần khui hụi là 2.500.000đồng, trong dây hụi này bà B có tham gia một phần, bà B đóng được một lần hụi sống đến ngày 05/3/2020âl bà Bay kêu số tiền 2.1500.000đồng và được hốt hụi. Sau khi gom hụi bà đã giao cho bà B nhận số tiền là 90.850.000đồng đã trừ tiền thảo có giấy giao nhận hụi. Trong dây hụi này bà B phải có nghĩa vụ đóng lại cho bà 31 lần hụi chết, nhưng bà B chỉ đóng cho bà được 06 tháng hụi chết thì ngưng, bà đã đóng hụi chết cho bà B 25 lần là 100.000.000đồng, dây hụi đã mãn vào ngày 05 tháng 9 năm 2022.

Nay bà yêu cầu bà B và ông Đ có nghĩa vụ trả cho bà số tiền hụi chết mà bà đã đóng choàng trong dây hụi này là 125.000.000đồng (Một trăm hai mươi lăm triệu đồng) và yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật từ ngày bà B không đóng hụi cho đến ngày Tòa án xét xử.

Tổng số tiền hụi bà Q yêu cầu bà B và ông Đ trả cho bà là 560.000.000đồng (Năm trăm sáu mươi triệu đồng) và yêu cầu tính lãi của năm dây hụi theo mức lãi suất của pháp luật quy định từ ngày bà B không đóng hụi chết cho đến ngày Tòa án xét xử.

Tại bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bị đơn bà Thạch Thị B có lời trình bày như sau: Bà thừa nhận có chơi hụi do bà Nguyễn Thị Q làm đầu thảo và bà là hụi viên các dây hụi gồm:

Dây hụi thứ nhất: Khui hụi vào ngày 03/11/2019âl dây hụi tháng, loại hụi 5.000.000đồng gồm 32 phần, mỗi tháng khui hụi một lần và tiền thảo cho mỗi lần khui hụi là 2.500.000đồng, bà có tham gia một phần và bà đã kêu số tiền 2.010.000đồng và được hốt hụi vào ngày 03/8/2020 với số tiền là 95.240.000đồng sau khi trừ tiền thảo bà Q đã giao cho bà nhận đủ số tiền trên. Sau đó bà đã đóng hụi được 02 lần trong dây hụi này bà còn nợ bà Q là 95.000.000đồng tiền hụi chết và nay bà xin bà Q giảm phần tiền lãi cho bà.

Dây hụi thứ hai: Khui hụi vào ngày 08/4/2019âl dây hụi tháng, loại hụi 5.000.000đồng gồm 32 phần, mỗi tháng khui hụi một lần và tiền thảo cho mỗi lần khui hụi là 2.500.000đồng, bà có tham gia một phần và bà đã kêu số tiền 2.230.000đồng và được hốt hụi vào ngày 08/9/2019 bà đã nhận đủ tiền hụi và có đóng lại cho bà Q 14 lần hụi chết. Trong dây hụi này bà còn nợ tiền hụi chết bà Q là 70.000.000đồng và nay bà xin bà Q giảm phần tiền lãi cho bà.

Dây hụi thứ ba: Khui hụi vào ngày 17/9/2019âl dây hụi tháng, loại hụi 10.000.000đồng gồm 27 phần, mỗi tháng khui hụi một lần và tiền thảo cho mỗi lần khui hụi là 5.000.000đồng, trong dây hụi này bày có tham gia một phần và bà đã kêu hụi 4.400.000đồng và được hốt hụi ngày 17/02/2020. Sau đó bà có đóng hụi chết được 09 lần và hiện còn nợ bà Q tiền hụi chết là 120.000.000đồng và bà xin bà Q giảm phần tiền lãi cho bà.

Dây hụi thứ tư: Khui hụi vào ngày 19/7/2019âl dây hụi tháng, loại hụi 5.000.000đồng gồm 34 phần, mỗi tháng khui hụi một lần và tiền thảo cho mỗi lần khui hụi là 2.500.000đồng, bà có tham gia một phần và bà đã kêu số tiền 2.210.000đồng và được hốt hụi vào ngày 17/9/2019 bà đã nhận đủ tiền hụi và có đóng lại cho bà Q 14 lần hụi chết. Trong dây hụi này bà còn nợ tiền hụi chết bà Q là 85.000.000đồng và bà xin bà Q giảm phần tiền lãi cho bà.

Dây hụi thứ năm: Khui hụi vào ngày 05/02/2020âl dây hụi tháng, loại hụi 5.000.000đồng gồm 33 phần, mỗi tháng khui hụi một lần và tiền thảo cho mỗi lần khui hụi là 2.500.000đồng, bà có tham gia một phần và bà đã kêu số tiền 2.150.000đồng và được hốt hụi vào ngày 05/3/2020 bà đã nhận đủ tiền hụi và có đóng lại cho bà Q 08 lần hụi chết. Trong dây hụi này bà còn nợ tiền hụi chết bà Q là 115.000.000đồng và bà xin bà giảm phần tiền lãi cho bà.

Tổng số tiền hụi chết của các dây hụi bà còn nợ bà Q là 485.000.000đồng, do bà Q có gom dư của bà một tháng của các dây hụi nên bà yêu cầu trừ ra cho bà số tiền là 42.000.000đồng. Hiện tại bà chỉ còn nợ tiền hụi của bà Q số tiền là 443.000.000đồng và bà xin bà Q giảm phần tiền lãi cho bà.

Tại bản tự khai ông Lê Văn Đ trình bày như sau: Ông là chồng của bà Thạch Thị B, ông thống nhất theo ý kiến trình bày của bà B, ông không có yêu cầu gì thêm.

Tại phiên tòa hôm nay bà Q vẫn giữ yêu cầu khởi kiện. Bà Q yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà B và ông Đ có nghĩa vụ trả cho bà tổng số tiền hụi còn nợ của 04 dây hụi tổng cộng là 560.000.000đồng (Năm trăm sáu mươi triệu đồng) và yêu cầu tính lãi của năm dây hụi theo mức lãi suất của pháp luật quy định từ ngày bà B không đóng hụi chết cho đến ngày Tòa án xét xử.

Tại phiên tòa ông Đ vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt và bà B vắng mặt lần thứ hai nên không có lời trình bày.

Tòa án có triệu tập hợp lệ bà B và ông Đ đến Tòa án để kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vụ kiện theo quy định của pháp luật nhưng bà B và ông Đ vắng mặt không lý do. Từ đó phiên hòa giải không tiến hành được và quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn có mặt tại phiên Toà vẫn giữ lời trình bày và yêu cầu như đã nêu trên. Bị đơn vắng mặt, không có yêu cầu phản tố và các đương sự không bổ sung chứng cứ gì mới tại phiên Toà.

Lời phát biểu của Kiểm sát viên kết luận trình tự thủ tục thụ lý hồ sơ vụ án, xác định quan hệ pháp luật, xác định người tham gia tố tụng, thành phần hòa giải và thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm đều đúng qui định pháp luật. Các văn bản tố tụng từ khi nhận đơn khởi kiện cho đến khi ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử đều tống đạt đầy đủ cho các đương sự nhận và tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục đúng qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự tại các Điều 70, 71, 72 và Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo qui định pháp luật.

Về nội dung vụ án: Vị Kiểm sát viên Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 471 và Điều 468 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường.

Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vị đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Q.

Buộc bà Thạch Thị B và ông Lê Văn Đ có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Q tổng số tiền hụi còn nợ của các dây hụi là 560.000.000đồng (Năm trăm sáu mươi triệu đồng) và phần tiền lãi theo mức lãi suất 10%/năm được tính từ ngày mãn hụi đến ngày xét xử sơ thẩm.

Ngoài ra Vị Kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về quan hệ tranh chấp: Đây là vụ án“Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc Thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Châu Thành.

Về thủ tục tố tụng: Ông Lê Văn Đ vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt và bà B được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như qua lời trình bày của các bên đương sự thì bà Bay thừa nhận bà có tham gia chơi năm dây hụi do bà Nguyễn Thị Q làm đầu thảo và bà Thạch Thị B là hụi viên gồm:

+ Dây hụi ngày 03/11/2019âl hụi tháng loại hụi 5.000.000đồng.

+ Dây hụi ngày 19/7/2019âl hụi tháng loại hụi 5.000.000đồng.

+ Dây hụi ngày ngày 17/9/2019âl hụi tháng loại hụi 10.000.000đồng.

+ Dây hụi ngày 08/4/20199âl dây hụi tháng, loại hụi 5.000.000đồng.

+ Dây hụi ngày 05/02/2010âl hụi tháng loại hụi 5.000.000đồng.

Qúa trình giải quyết vụ án bà Q và bà B đều thừa nhận các dây hụi đúng ngày tháng năm khui hụi và loại hụi, các dây hụi này bà B là hụi viên đã hốt và bà B phải có nghĩa vụ đóng hụi chết cho bà Q cho đến khi hụi mãn. Lời khai của các đương sự là phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự đây là tình tiết sự kiện đương sự thừa nhận không cần phải chứng minh.

Tại phiên Toà hôm nay bà Q vẫn giữ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà B và ông Đ phải có nghĩa vụ trả cho bà số tiền hụi chết mà bà B và ông Đ còn nợ của năm dây hụi với tổng số tiền là 560.000.000đồng và yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật. Xét thấy yêu cầu này của bà Q là có cơ sở chấp nhận. Bởi vì bà B tham gia chơi hụi và hốt hụi của bà Q có giấy giao hụi cho bà B nhận nhưng bà B không đóng hụi chết cho bà Q là vi phạm nghĩa vụ của người hụi viên đối với đầu thảo.

Phía bà B thừa nhận và chỉ đồng ý trả cho bà Q số tiền hụi chết như sau: Dây hụi ngày 03/11/2019 bà Bay đồng ý trả cho bà Q số tiền 95.000.000đồng; dây hụi ngày 08/4/2019âl bà B đồng ý trả cho bà Q số tiền là 70.000.000đồng; dây hụi ngày ngày 17/9/2019âl bà B đồng ý trả cho bà Q số tiền là 120.000.000đồng; dây hụi ngày 19/7/2019âl bà B cho rằng còn nợ bà Q số tiền 85.000.000đồng và dây hụi ngày 03/11//2019âl bà B cho rằng còn nợ bà Q số tiền 115.000.000đồng. Tổng cộng là 485.000.000đồng, do bà Q có gom dư của bà một tháng nên bà yêu cầu trừ ra số tiền 42.000.000đồng. Hiện tại bà chỉ còn nợ bà Q số tiền là 443.000.000đồng và bà xin bà Q giảm phần tiền lãi cho bà. Xét lời nại ra của bà B có chênh lệch số tiển của các dây hụi mà bà B không có chứng cứ nào chứng minh cho lời trình của bà.

Đối với ông Đ mặc dù không có ký giấy nhận hụi, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án ông Đ có ý kiến là ông thống nhất theo ý kiến của bà B. Xét thấy bà B và ông Đ là vợ chồng, giao dịch hụi này trong thời kỳ hôn nhân nên có đủ cơ sở buộc ông Đ cùng bà B có nghĩa vụ trả cho bà Q số tiền hụi còn nợ.

Căn cứ vào Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự về nghĩa vụ chứng minh “Đương sự có yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì phải đưa ra chứng cứ để chứng minh”. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án có thông báo cho bà và ông Đ có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh nhưng bà B và ông Đ không có ý kiến gì và bà B cũng không có giấy tờ nào để chứng minh cho lời trình bày của bà là đã đóng hụi xong cho bà Q tháng 9 và tháng 10 năm 2020 và việc bà đã đóng cho bà Q dư ra một tháng với số tiền 42.000.000đồng. Từ những nhận định nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy buộc bà B và ông Đ có nghĩa vụ trả cho bà Q tổng số tiền hụi còn nợ của năm dây hụi là 560.000.000đồng (Năm trăm sáu mươi triệu đồng) và tiền lãi theo quy định của pháp luật là có căn cứ.

Xét về yêu cầu tính lãi:

Phần yêu cầu tiền lãi của bà Q: Bà Q yêu cầu tiền lãi của các dây hụi theo quy định của pháp luật tính từ ngày bà B không đóng hụi chết cho đến ngày Tòa án xét xử là không có cơ sở chấp nhận bởi vì thời gian bà B không đóng hụi chết cho đầu thảo là hụi đang giao dịch chưa mãn, đầu thảo vẫn được hưởng huê hồng (Tiền thảo) trong các kỳ khui hụi.

Hội đồng xét xử xét thấy việc bà B và ông Đ nợ tiền hụi của bà Q thì phải có nghĩa vụ trả tiền lãi cho bà Q là phù hợp theo quy định của pháp luật.

Lãi suất được tính từ ngày mãn hụi của các dây hụi theo mức lãi suất quy định là 10%/năm, tiền lãi được tính như sau:

+ Đối với dây hụi ngày 03/11/2019âl số tiền 105.000.000 đồng tiền lãi tính từ ngày 03 tháng 5 năm 2022 đến ngày xét xử 05/5//2023 là 12 tháng 02 ngày x 0,83%/tháng (Tức 10%/năm) là 10.558.000 đồng.

+ Đối với dây hụi ngày 19/7/2019âl số tiền 100.000.000 đồng tiền lãi tính từ ngày 19 tháng 3 năm 2022 đến ngày xét xử 05/05/2023 là 13 tháng 16 ngày x 0,83%/tháng (Tức 10%/năm) là 11.233.000 đồng.

+ Đối với dây hụi ngày 19/7/2019âl số tiền 150.000.000đồng tiền lãi tính từ ngày 17 tháng 10 năm 2021 đến ngày xét xử 05/5/2023 là 18 tháng 18 ngày x 0,83%/tháng (Tức 10%/năm) là 23.157.000 đồng.

+ Đối với dây hụi ngày 08/4/2019âl số tiền 80.000.000 đồng tiền lãi tính từ ngày 08 tháng 12 năm 2021 đến ngày xét xử 05/5/2023 là 16 tháng 27 ngày x 0,83%/tháng (Tức 10%/năm) là 11.222.000 đồng.

+ Đối với dây hụi ngày 05/02/2020âl số tiền 125.000.000 đồng tiền lãi tính từ ngày 05 tháng 9 năm 2022 đến ngày xét xử 05/5/2023 là 08 tháng x 0,83%/tháng (Tức 10%/năm) là 8.300.000 đồng.

Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của bà Q là có căn cứ chấp nhận được Hội đồng xét xử chấp nhận một phần. Buộc bà B và ông Đ có nghĩa vụ trả cho bà Q số tiền hụi còn nợ tổng cộng là 560.000.000 đồng (Năm trăm sáu mươi triệu đồng) và tiền lãi tổng cộng là 64.470.000 đồng (Sáu mươi bốn triệu bốn trăm bảy mươi nghìn đồng).

Xét ý kiến về việc giải quyết vụ án của Vị kiểm sát viên là có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu được chấp nhận nên bà Q không phải chịu án phí. Bà B và ông Đ phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 280, 288 và khoản 2 Điều 468, 471 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 26, Điểm a khoản 1 điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, 147, 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ Luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị định 19/2019/NĐ - CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;

Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Q.

Buộc bà Thạch Thị B và ông Lê Văn Đ có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Q tổng số tiền hụi còn nợ của năm dây hụi là 560.000.000đồng (Năm trăm sáu mươi triệu đồng) và tiền lãi tổng cộng là 64.470.000 đồng (Sáu mươi bốn triệu bốn trăm bảy mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp Cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc Thạch Thị B và ông Lê Văn Đ có nghĩa vụ nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 28.978.800đồng (Hai mươi tám triệu chín trăm bảy mươi tám nghìn tám trăm đồng).

- Bà Nguyễn Thị Q không phải chịu án phí và bà Q được nhận lại số tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp là 3.125.000đồng (Ba triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0014060; số tiền là 2.000.000đồng (Hai triệu đồng) theo biên lai thu số 0014061; số tiền là 2.500.000đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền 0014059; số tiền là 3.750.000đồng (Ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0014064 và số tiền là 2.625.000đồng (Hai triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0014062 cùng ngày 31 tháng 10 năm 2022 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh thu.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo qui định tại Điều 174 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ