vanban.org

Bản án 30/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Thùy T.

Buộc bà Phan Thị Y phải trả cho bà Đỗ Thị Thùy T số tiền 100.000.000 đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "vay"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Thùy T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2023/DS-ST
Ngày: 14-6-2023
V/v tranh chấp “Hợp đồng vay”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Hằng Ni.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Thái Thành Nam.

Bà Huỳnh Ngọc Thắm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Lê Lộc– Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Vào ngày 14 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý: 69/2023/TLST-DS ngày 23 tháng 3 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2023/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 36/2023/QĐST-DS ngày 29 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Thùy T, sinh năm 1973 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: ẤpT,xã H,thịxã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Bà Phan Thị Y, sinh năm 1983 (vắng mặt).

Địa chỉ: ẤpT,xã H thịxã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đỗ Thị Thùy T trình bày: Do quen biết, nên vào ngày 15/10/2019 bà có cho bà Phan Thị Y mượn số tiền 100.000.000 đồng, không thỏa thuận lãi suất, việc này có làm biên nhận do bà Ý viết và kí tên. Khi vay bà với bà Ý không thỏa thuận thời gian trả vốn, hai bên chỉ thỏa thuận miệng khi nào bà cần lấy lại thì sẽ báo trước cho bà Ý để bà Ý có thời gian chuẩn bị. Đến khi cần lấy lại vốn, bà đã thông báo cho bà Ý biết nhưng đến nay bà Ý vẫn cố tình không trả tiền cho bà mà cứ hẹn lần hẹn lượt.

Do đó nay bà khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà Phan Thị Y phải trả cho bà số tiền 100.000.000 đồng, trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn bà Phan Thị Y vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có ý kiến phản bác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xác định quan hệ tranh chấp là “Hợp đồng vay” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

[2] Nguyên đơn bà Đỗ Thị Thùy T có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vụ án vắng mặt, bị đơn bà Phan Thị Y đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để xét xử nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Xét nội dung giấy mượn tiền lập ngày 15/10/2019 thể hiện: Ngày 15/10/2019 bị đơn bà Phan Thị Y có mượn của nguyên đơn bà Đỗ Thị Thùy T số tiền 100.000.000 đồng. Theo nguyên đơn bà Đỗ Thị Thùy T trình bày khi vay bà với bà Ý không thỏa thuận lãi suất, không thỏa thuận thời gian trả vốn, hai bên chỉ thỏa thuận miệng khi nào bà cần lấy lại thì sẽ báo trước cho bà Ý để bà Ý có thời gian chuẩn bị. Đến khi cần lấy lại vốn, bà đã thông báo cho bà Ý biết nhưng đến nay bà Ý không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà Trang theo thỏa thuận là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015.

Bị đơn bà Phan Thị Y đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp nhưng không nộp bản tự khai; không đưa ra tài liệu, chứng cứ phản đối yêu cầu của nguyên đơn và vắng mặt tại các phiên họp, phiên tòa là đã từ bỏ quyền lợi của mình, đồng thời đây cũng là những tình tiết và sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.

Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Thị Thùy T yêu cầu bà Phan Thị Y trả số tiền 100.000.000 đồng, là có căn cứ.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 357, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Thùy T.

Buộc bà Phan Thị Y phải trả cho bà Đỗ Thị Thùy T số tiền 100.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí: Bà Phan Thị Y phải chịu 5.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho bà Đỗ Thị Thùy T 2.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0018430 ngày 16/3/2023 của Chi Cục thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nôi nhaän:

Cỡ chữ