vanban.org

Bản án 30/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 15/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Tạ Đình T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: bị cáo Tạ Đình T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Tạ Đình T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG LÔ
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2022/HSST
Ngày 15 tháng 8 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: ông Trần Hữu Lực

Các hội thẩm nhân dân: ông Lê Thành Sơn

bà Nguyễn Thị Hồng

- Thư ký phiên toà: bà Lê Thị Huyền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô tham gia phiên toà: ông Phạm Tiến Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2022/TL-HSST ngày 21/6/2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2022/QĐXXST-HS ngày 07/6/2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: Tạ Đình T, sinh ngày 21/8/1981

Nơi cư trú: thôn D, xã P, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 3/10; bố đẻ: Tạ Quang Đ, sinh năm 1939, đã chết; mẹ đẻ: Nguyễn Thị B (bỏ đi khỏi địa phương đã lâu, chưa xác định được còn sống hay đã chết); vợ: Đặng Thị S, sinh năm 1979; con: có 01 con, sinh năm 2004, hiện vợ, con bị cáo đang làm ruộng tại xã P, huyện Sông Lô; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo T: bà Kim Hồng Thanh - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc.

- Người bị hại: anh Hà Văn V, sinh năm 1979; nơi cư trú: tổ 3, Phường Nguyễn Trãi, TP. Hà Giang, tỉnh Hà Giang, vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Công ty Cổ phần Hà Thành P, địa chỉ: địa chỉ số 23, đường Phan Huy

Chú, tổ 9, phường Minh Khai, thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang. Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Văn K – Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1963; nơi cư trú: thôn T, xã P, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.

+ Chị Đặng Thị S, sinh năm 1979; nơi cư trú: thôn D, xã P, huyện Sông

Lô, Vĩnh Phúc, có mặt

- Người làm chứng: ông Phạm Văn Th; nơi cư trú: thôn D, xã P, huyện

Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt; ông Nguyễn Công K, sinh năm 1966, nơi cư trú: thôn D, xã P, huyện Sông Lô, Vĩnh Phúc, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 50 phút, ngày 30/01/2022, anh Hà Văn V điều khiển xe ô tô nhãn hiệu SUZUKI màu cam XL7 (loại xe 07 chỗ ngồi) biển kiểm soát 23A-102.02 cùng vợ là chị Vương Thanh M, sinh năm 1981 đến thôn Nị, xã P, huyện Sông Lô vào gia đình ông bà T để chúc tết. Anh V đỗ xe bên phải đầu ngõ, lối mở đường bê tông liên thôn thuộc thôn D xã P. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, sau khi uống rượu Tạ Đình T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu LISOHAKA biển biển kiểm soát 19P1-5546 (trong máu có nồng độ cồn 52mg/100ml máu) đi từ nhà ra lối mở đầu ngõ. T điều khiển xe không chú ý quan sát đã đâm vào đầu xe bên trái xe ô tô của anh V đang đỗ, T bị ngã ra đường, bánh trước xe mô tô bị kẹp dưới gầm xe ô tô, bánh sau chổng lên trời. T cho rằng do xe ô tô đỗ sai làm khuất tầm nhìn nên làm T bị ngã. T bực tức nhặt các viên gạch xy ở lề đường gồm; 01 viên gạch có kích thước 24,5cm x 14cm x 9cm; 01 viên gạch có kích thước 4,5cm x 14cm x 9cm và 01 tảng gạch có kích thước 24cm x 21cm x 10cm ném nhiều phát vào nhiều vị trí xe ô tô. Hậu quả, vỡ kính chắn gió phía trước, vỡ kính cửa sau bên trái, vỡ kính hông sau bên lái (kính chết), vỡ kính cửa hậu, móp méo nắp capo trước. T không bị thương tích gì, xe mô tô bị hư hỏng nhẹ. Sau đó, được ông Phạm Văn T, anh Nguyễn Công K và mọi người can ngăn, T đi về nhà.

Chiếc xe ô tô BKS 23A-102.02 là tài sản của Công ty Cổ phần Hà Thanh Phúc do anh Đặng Văn K là Giám đốc, có trụ sở tại số 23, đường Phan Huy Chú, tổ 9, phường Minh Khai, thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang cho anh Hà Văn V mượn, sử dụng. Công ty này đã ủy quyền cho ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1963, trú tại thôn T, xã P, huyện Sông Lô làm việc đến khi giải quyết xong vụ việc.

Tại bản kết luật định giá tài sản số: 08/KLĐG ngày 15/2/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Sông Lô kết luận: những bộ phận hư hỏng của xe ô tô nhãn hiệu Suzuki BKS 23A-102.02 do hành vi đập phá của Tấn gây ra thiệt hại trị giá 36.699.300 đồng.

Tại bản kết luật định giá tài sản số: 07/KLĐG ngày 15/2/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Sông Lô kết luận: Những bộ phận hư hỏng của xe mô tô BKS 19P1-5546 thiệt hại trị giá 210.000đ.

Tại bản kết luật định giá tài sản số: 09/KLĐG ngày 15/2/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Sông Lô kết luận: những bộ phận hư hỏng của xe ô tô nhãn hiệu Suzuki BKS 23A-102.02 (do va chạm tai nạn giao thông) thiệt hại trị giá 1.000.000 đồng.

Đối với hành vi vi phạm quy định Luật giao thông đường bộ của Tạ Đình T và Hà Văn V do không có ai bị thương tích gì, thiệt hại về tài sản nhỏ (dưới 100.000.000đ) nên Cơ quan Công an huyện Sông Lô ra quyết định xử phạt hành chính và không đề nghị xử lý về hình sự.

* Vật chứng vụ án:

- Xe ô tô BKS 23A-102.02; 01 giấy kiểm định, 01 giấy đăng ký xe ô tố, Giấy chứng nhận bảo hiểm ô tố của xe ô tô BKS 23A-102.02; 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Vương Thanh M và 01 giấy phép lái xe hạng A1, B2 mang tên Hà Văn Vỹ. Xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên ngày 23/02/2022 Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Lô đã trả cho chị M là đúng chủ sở hữu.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Lisohaka BKS 19P1-5546, kết quả tra cứu không nằm trong danh mục vật chứng của vụ án khác, là tài sản hợp pháp của Tạ Đình T cần xem xét trả lại cho T là đúng chủ sở hữu, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- 01 viên gạch có kích thước 24,5cm x 14cm x 9cm; 01 viên gạch có kích thước 4,5cm x 14cm x 9cm và 01 tảng gạch có kích thước 24 cm x 21cm x 10cm là các công cụ T thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Trách nhiệm dân sự: ngày 05/2/2022, chị Đặng Thị S sinh năm 1979 là vợ bị cáo T đã tự nguyện bồi thường số tiền 31.000.000đ cho anh Hà Văn V và Công ty Cổ phần Hà Thanh P do ông Nguyễn Văn T là người đại diện theo uy quyền. Anh V và ông T đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Đối với những thiệt hại do va chạm giao thông anh Hà Văn V và Tạ Đình T tự nguyện khắc phục và không yêu cầu đề nghị gì.

Tại bản cáo trạng số: 28/CT-VKSSL ngày 20 tháng 6 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô đã truy tố Tạ Đình T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên – đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô luận tội đối với bị cáo Tạ Đình T. Giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Sau khi đánh giḠtính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Tạ Đình T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Xử phạt: bị cáo Tạ Đình T từ 08 tháng tù đến 10 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân dự và xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 viên gạch có kích thước 24,5cm x 14cm x 9cm; 01 viên gạch có kích thước 4,5 cm x 14cm x 9cm và 01 tảng gạch có kích thước 24 cm x 21cm x 10cm.

Trả lại cho T 01 xe mô tô nhãn hiệu Lisohaka BKS 19P1-5546 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Xác nhận gia đình bị cáo T đã thường cho anh Hà Văn V và Công ty Cổ phần Hà Thanh P do ông Nguyễn Văn T là người đại diện theo ủy quyền số tiền 31.000.000đ là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Tạ Đình T khai nhận toàn bộ hành vi ngày 30/01/2022, cố ý làm hư hỏng tài sản là chiếc xe ô tô BKS 23A-102.02 của Công ty Cổ phần Hà Thanh Phúc như nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng, ngoài ra không có lời bào chữa nào khác.

Người bào chữa cho bị cáo T trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị Tấn đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, ăn năn hối cải, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, gia đình bị cáo đã bồi thường cho người bị hại, người bị hại không có đề nghị bồi thường gì thêm và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để phạt bị cáo mức hình phạt từ 08 tháng tù đến 10 tháng tù cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo T nhất trí với nội dung như người bào chữa cho bị cáo đã trình bày, bị cáo không có ý kiến bổ sung gì thêm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo T nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Lô, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tài liệu điều tra trong hồ sơ vụ án thể hiện khoảng 14 giờ 30 phút ngày 30/01/2022, tại khu vực đường bê tông liên thôn thuộc thôn D, xã P, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc, do mâu thuẫn va chạm giao thông nên Tạ Đình T có hành vi dùng các viên gạch xy có kích thước khác nhau ném nhiều phát vào nhiều vị trí xe ô tô BKS 23A-102.02 do anh Hà Văn V điều khiển đỗ ở đó. Hậu quả, vỡ kính chắn gió phía trước, Võ kính cửa sau bên trái, vỡ kính hông sau bên lái (kính chết), vỡ kính cửa hậu, móp méo nắp capo trước, tổng tài sản bị thiệt hại trị giá là 36.699.300 đồng.

Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các lời khai, bản kiểm điểm của bị cáo, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Tạ đình T phạm tội“Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào … cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, …, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”

Xét tính chất vụ án tuy là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật. Bị cáo nhận thức được rằng tài sản của công dân luôn được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi của bất kỳ người nào xâm hại đến đều bị pháp luật trừng trị nghiêm minh. Tuy nhiên do ý thức coi thường pháp luật, xem nhẹ tài sản của người khác nên bị cáo đã thực hiện hành vi dùng các viên gạch xy có kích thước khác nhau ném nhiều phát vào nhiều vị trí xe ô tô BKS 23A-102.02 của anh Hà Văn V làm vỡ kính chắn gió phía trước, vỡ kính cửa sau bên trái, vỡ kính hông sau bên lái (kính chết), vỡ kính cửa hậu, móp méo nắp capo trước. Hành vi của bị cáo ngoài việc xâm hại đến tài sản của anh V nói riêng thì còn làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải đưa ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật và có hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, như vậy mới có tác dụng cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe giáo dục, phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân bị cáo thấy rằng: bản thân bị cáo T trước khi phạm tội là công dân tốt. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận và ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Nên Hội đồng xét xử cũng xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo nhưng cũng phải là phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, có như vậy mới có đủ điều kiện để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 178 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”.... Tuy nhiên theo tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có việc làm ổn định, không có thu nhập, kinh tế gia đình khó khăn, thuộc diện hộ nghèo, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng vụ án: Ngày 05/2/2022, chị Đặng Thị S là vợ bị cáo T đã tự nguyện bồi thường số tiền 31.000.000 đ cho anh Hà Văn V và Công ty Cổ phần Hà Thanh Phúc do ông Nguyễn Văn T là người đại diện theo ủy quyền. Anh V và ông T đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Chị S cũng tự nguyện không yêu cầu bị cáo T phải trả lại số tiền chị đã bồi thường thay cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng: Đối với 01 xe ô tô BKS 23A-102.02; 01 giấy kiểm định, 01 giấy đăng ký xe ô tố, Giấy chứng nhận bảo hiểm ô tô của xe ô tô BKS 23A-102.02; 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Vương Thanh M và 01 giấy phép lái xe hạng A1, B2 mang tên Hà Văn V. Ngày 23/02/2022 Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Lô đã trả cho chị M là đúng chủ sở hữu hợp pháp.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Lisohaka BKS 19P1-5546 là tài sản hợp pháp của Tạ Đình T cần xem xét trả lại cho T là đúng chủ sở hữu, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 viên gạch có kích thước 24,5cm x 14cm x 9cm; 01 viên gạch có kích thước 4,5 cm x 14cm x 9cm và 01 tảng gạch có kích thước 24 cm x 21cm x 10cm là các công cụ Tấn thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: bị cáo Tạ Đình T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: bị cáo Tạ Đình T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Tạ Đình T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Về vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 viên gạch có kích thước 24,5cm x 14cm x 9cm; 01 viên gạch có kích thước 4,5 cm x 14cm x 9cm và 01 tảng gạch có kích thước 24 cm x 21cm x 10cm.

Trả lại cho T 01 xe mô tô nhãn hiệu Lisohaka BKS 19P1-5546 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo Tạ Đình T phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại UBND nơi cư trú của người vắng mặt.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ