vanban.org

Bản án 30/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phong Điền, TP. Huế Tuyên án 17/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản;

Xử phạt Phan Văn T 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giam là ngày 20/5/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHONG ĐIỀN
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2022/HS-ST
Ngày: 17 - 08 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Xuân Đàm.

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Lương và bà Nguyễn Thị Thanh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Chiến, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2022/TLST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 28/2022/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 08 năm 2022, đối với bị cáo:

Phan Văn T, sinh ngày 10/11/2003 tại tỉnh Quảng Trị; Nơi đăng ký thường trú và chổ ở: Thôn P, xã H, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Phụ thợ xây; học vấn: 7/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn H1 và bà Lê Thị Ng; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/5/2022 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Nhân thân: Sinh ra và lớn lên ở với ông nội tại thôn P, xã H, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Học đến lớp 7/12 thì nghỉ học đi phụ thợ xây. Ngày 08/12/2020, phạm tội Trộm cắp tài sản bị Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ và đến ngày 18/10/2021 chấp hành xong hình phạt.

- Bị hại: Bà Mai Thị H, sinh năm 1955; địa chỉ: Thôn B, xã PH, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt và đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phan Văn T, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn Phú Kinh, xã Hải Phong, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, có mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 12/3/2022, Phan Văn T điều khiển xe môtô biển kiểm soát 74F1- 069.58 đi từ nhà của mình theo đường Quốc lộ 49 đến quán tạp hóa của bà Mai Thị H tại thôn B, xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế để mua dầu hỏa. Khi vào quán, T thấy bà H đang nằm ngủ trên giường, quán không có ai trông giữ nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T nhìn thấy phía đầu giường có 01 hộp kim loại để trong cái xô nhựa trên nền nhà, nghi là đựng tiền nên T tiến đến lấy chiếc hộp giấu vào trong người. T tiếp tục đi đến lấy chiếc điện thoại Iphone 6 đang để trên bàn bỏ vào túi quần rồi nhẹ nhàng đi ra và điều khiển xe môtô về nhà.

Trên đường về, khi đến cầu Hải Hòa, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng trị, T dừng lại mở hộp kim loại ra kiểm tra thì trong hộp có 49 thẻ Card điện thoại có nhiều mệnh giá khác nhau, T liền bỏ vào túi quần và vứt chiếc hộp xuống sông Ô Lâu rồi điều xe mô tô về nhà (do T không nhớ được vị trí vứt chiếc hộp kim loại nên cơ quan điều tra không truy tìm được vật chứng).

Sau khi nhận được tin báo của bà Mai Thị H, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, truy xét và Phan Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình đồng thời giao nộp toàn bộ tài sản đã chiếm đoạt.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 30/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Phong Điền kết luận:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6, màu vàng đồng có trị giá là 1.000.000.đ (Một triệu đồng);

- 20 (hai mươi) cái Card điện thoại di động Vinaphone mệnh giá 10.000.đ có tổng trị giá là 200.000.đ (Hai trăm ngàn đồng);

- 04 (bốn) cái Card điện thoại di động Vinaphone mệnh giá 50.000.đ có tổng trị giá là 200.000.đ (Hai trăm ngàn đồng);

- 15 (mười lăm) cái Card điện thoại di động Mobifone mệnh giá 20.000.đ có tổng trị giá là 300.000.đ (Ba trăm ngàn đồng);

- 10 (mười) cái Card điện thoại di động Viettel mệnh giá 50.000.đ có tổng trị giá là 500.000.đ (Năm trăm ngàn đồng).

Tổng tài sản bị cáo chiếm đoạt có tổng trị giá là: 2.200.000.đ (Hai triệu hai trăm ngàn đồng).

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Điền đã trả lại toàn bộ tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt cho người bị hại. Người bị hại đã nhận đủ và không có yêu cầu gì thêm, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đối với xe môtô hiệu Novo biển kiểm soát 74F1-069.58, trong quá trình điều tra đã xác định được chủ sỡ hữu là của anh Phan Văn Tứ - Là chú ruột của bị cáo T. Việc T đã tự ý sử dụng xe mô tô đi gây án vào ngày 12/3/2022 thì anh Tứ hoàn toàn không biết nên không có cơ sở để xem xét trách nhiệm hình sự đối với anh Tứ củng như đối với xe mô tô 74F1- 069.58.

Kết thúc phần tranh tụng, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định đã truy tố đối với Phan Văn T theo bản cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 22/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự hiện hành, Tuyên bố: Phan Văn T phạm tội “trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giam.

Về trách nhiệm dân sự: không có yêu cầu nên không xem xét.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thực sự tỏ ra ăn năn hối cải, được thể được hiện qua “nói lời sau cùng: Bị cáo thực sự hối hận chỉ vì nông nổi, không kiềm chế được bản thân dẫn đến phạm tội; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được hòa nhập với gia đình”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng, nhận thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố củng như tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có yêu cầu hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng. Chứng tỏ các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự.

Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét thấy: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận “Với mục đích chiếm đoạt tài sản để thỏa mản nhu cầu của bản thân, lợi dụng khi bà Mai Thị H là chủ quán đang ngủ say trên giường, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt trót lọt của bà H 01 điện thoại Iphone 6 và 49 cái Card điện thoại các loại. Tổng tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt có tổng trị giá là: 2.200.000.đ”. Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong suốt quá trình điều tra củng như phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và vật chứng của vụ án.

Xét khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, Phan Văn T có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; Bị cáo nhận thức được việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là bị pháp luật cấm, nếu vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm khắc. Nhưng với động cơ vụ lợi, T đã không kiềm chế được dẫn đến phạm tội.

Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Phan Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, như Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; hậu quả, nhân thân người phạm tội và yêu cầu của công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm, Hội đồng xét thấy: Bị cáo đến quán của bà H với mục đích là để mua dầu hỏa, bị cáo không có ý đồ đến quán để trộm cắp tài sản, nhưng khi vào trong quán thì thấy bà H đang ngủ say trên giường nên bị cáo mới nẩy sinh ý đồ trộm cắp. Như vậy, hành vi của bị cáo mang tính cơ hội, bột phát với mục đích vụ lợi. Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị không lớn; sau khi bị phát hiện đã thành khẩn khai báo và giao nộp đầy đủ tài sản đã chiếm đoạt; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị hại đã có đơn đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo.

Nhưng bị cáo có nhân thân thân chưa tốt, năm 2020 bị cáo đã bị xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ củng về tội “Trộm cắp tài sản”. Tuy bị cáo không bị coi là tái phạm, nhưng xem ra bản thân bị cáo vẫn chưa cải tạo tốt, chưa từ bỏ được động cơ vụ lợi của mình.

Vì vậy, lần phạm tội này cần áp dụng một mức phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất của hành vi và hậu quả mà bị cáo đã thực hiện, nhằm cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo; đồng thời để cảnh cáo răn đe phòng ngừa chung, như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có cơ sở.

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã xử lý, trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra, bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan củng không có yêu cầu gì.

Tại phiên tòa hôm nay, bị hại vắng mặt và đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Đồng thời bị hại khẳng định “không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho bị cáo”. Người có quyền lợi liên quan củng không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự hiện hành;

1. Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản;

- Xử phạt Phan Văn T 06 (sáu) tháng tù.

- Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giam là ngày 20/5/2022.

2. Về trách nhiệm dân sự: Các đương sự không có yêu cầu nên không xét.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phan Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000.đ (hai trăm nghìn đồng).

Báo cho bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt thì kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ