- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần A L - Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Trần A L phạm tội “Giết ng ời”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2022/HS-ST Ngày 22-3-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Đoan
Thẩm phán:
Ông Ngô Văn Thắng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Sinh
Bà Trần Thị Kim Thủy
Ông Vũ Xuân Kiều
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Mai – Th ký Tòa án nhân dân t nh uảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa:
Ông Đoàn uốc Anh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 3 năm 2022, tại Tòa án nhân dân t nh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2022/HSST ngày 24 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số 15/2022/HSST- Đ ngày 22 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:
Trần A L; Tên gọi khác: C; Sinh ngày 02/3/2001 tại huyện B, t nh Quảng Ninh; Nơi c trú: xã H, huyện B, t nh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: ao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Sán ch , Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần A V và bà Lý Moóc L; Vợ con: không; Tiền án, tiền sự: không; Bắt giữ ngày 01/5/2021, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an t nh Quảng Ninh; Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật s Đào Bá Yên thuộc Đoàn Luật s t nh Quảng Ninh; Có mặt;
Bị hại: Cháu Trần Ph ơng T; Sinh ngày 19/02/2010; Địa ch : xã H, huyện B, Quảng Ninh; Có mặt;
Đại diện hợp pháp cho bị hại: anh Trần Văn M (Trần A M); Sinh năm 1987; Địa ch : xã H, huyện B, Quảng Ninh; Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Trợ giúp viên pháp lý D ơng Thị H ơng thuộc Trung tâm trợ giúp pháp ý Nhà n ớc t nh Quảng Ninh; Có mặt;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần A V; Sinh năm 1976; Địa ch : xã H, huyện B, t nh Quảng Ninh; Có mặt.
Những người làm chứng: Sằn A C và Trần Văn H đều có mặt. Vắng mặt Trần A Lày.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:
Ngày 30/4/2021, Trần A L cùng một số bạn bè uống r ợu bia trong khoảng thời gian từ 10 giờ đến 18 giờ tại xã Lục Hồn, huyện B, t nh Quảng Ninh. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, cả nhóm đi về. Khi về nhà, tháy trên nóc tủ lạnh của gia đình có 01 con dao cán gỗ, đầu nhọn, loại một ỡi sắc, L cầm dao ra đầu ngõ, giáp với đ ờng thôn ngồi. Lúc này, cháu Trần Ph ơng T đạp xe từ nhà văn hóa thôn P thuộc xã H, huyện B đi ngang qua cổng nhà L. Khi cháu T đạp xe cách vị trí L đang đứng khoảng 02 m, cho rằng cháu T đi xe bốc đầu, L thấy bực tức khó chịu nên cầm dao bằng tay phải đi ra đâm 01 nhát vào phần ng của cháu nh ng bị tr ợt, khiến cháu T bị ngã xe nằm xuống đ ờng. Sau đó cháu T vùng dậy chạy về phía nhà văn hóa thôn P nh ng ch chạy đ ợc khoảng vài mét đến cổng nhà anh Sằn A Cthì ngã nằm úp xuống đ ờng. Đúng úc đó, L đuổi kịp cháu T, dùng tay phải cầm dao đâm 01 nhát từ trên xuống d ới trúng vào phần vai phải của cháu T và đâm iên tiếp nhiều nhát vào vùng ng cháu T cho đến khi thấy cháu kêu lên: “Ợ ợ” thì dừng lại, vứt con dao vừa đâm cháu T xuống đất và cởi chiếc áo trắng đang mặc đặt ngay cạnh chỗ cháu T nằm. Lúc này, anh C đang ở trong nhà nghe thấy tiếng kêu ngay phía cổng nhà mình liền chạy ra thì thấy cháu T nằm gục d ới đất, ng ời dính nhiều máu, sát bên tay trái của cháu T có 01 con dao gọt hoa quả, còn L thì đang bỏ đi về phía nhà văn hóa thôn. Anh C chạy về phía nhà cháu T để thông báo cho gia đình đ a cháu T đi cấp cứu. Cũng trong úc này, ông nội và chú của Trần A L là Trần A Lày và Trần Văn H chạy ra, thấy L đang đi trong sân nhà văn hóa nên tiến lại gần chỗ L thì L nhặt 01 đoạn gậy định tấn công lại nh ng ông Lày và anh Hùng khống chế đ ợc L và giao cho cơ quan Công an. Cháu T đ ợc đ a đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa t nh Quảng Ninh đến ngày 05/7/2021 thì ra viện.
Biên bản khám nghiệm hiện tr ờng ngày 01/5/2021 thể hiện: Hiện tr ờng là khu vực đ ờng bê tông dẫn vào nhà anh Sằn A C thuộc xã H, huyện B, t nh Quảng Ninh. Lối lên nhà anh C dốc, dài 10m, chạy h ớng Bắc Nam. H ớng Bắc là sân nhà anh C, h ớng Nam à đ ờng dân sinh. Đối diện nhà anh C là nhà của Trần A L và nhà văn hóa thôn P. Trên lối lên nhà anh C có dấu vết màu nâu nghi máu đã khô, kích th ớc (1,4 x 0,3)m. Cách vết máu này về phía Đông Nam 4,5 m có 01 đôi dép nhựa, cách đôi dép nhựa 6,5 m có 01 con dao bằng kim loại dài 23 cm, cán gỗ dài 11,5 cm, có ỡi sắc dài 11,5 cm, một đầu nhọn. Trên nền đất sát con dao về h ớng phía Nam có 01 áo sơ mi dài tay, trên áo có nhiều dấu vết màu nâu đỏ nghi máu (là áo của Trần A L). Cách chiếc áo sơ mi về h ớng phía Đông Bắc 3,3 m có 01 chiếc xe đạp trong tình trạng đổ nghiêng. Cách xe đạp về h ớng phía Nam 7 m, tại mép h ớng phía Đông ngõ nhà Trần A L có 01 đôi dép vải màu tím than.
Về vật chứng của vụ án: quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ tại hiện tr ờng 01 dấu vết máu (tại khu vực lối lên nhà anh C), 01 áo sơ mi trắng và 01 con dao (nh mô tả ở trên). Thu của Trần A L 01 quần dài màu đen bị cáo mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
Tại Bản kết luận giám định số 936 ngày 28/5/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an t nh Quảng Ninh kết luận: Dấu vết màu nâu nghi máu ghi thu tại hiện tr ờng gửi giám định là máu Trần Ph ơng T. Trên chiếc áo có máu của cháu Trần Ph ơng T; trên chiếc quần có máu của Trần A L. Trên con dao có máu của cháu Trần Ph ơng T. Trên cán dao có dấu vết tế bào ng ời, do lẫn nhiễm của nhiều ng ời nên không phân tích đ ợc kiểu gen đủ yếu tố truy nguyên cá thể.
Tại Bản kết luận giám định pháp y th ơng tích số 504 ngày 06/7/2021 của Trung tâm pháp y Sở y tế Quảng Ninh kết luận đối với th ơng tích của cháu Trần Ph ơng T: cháu T có 08 vết th ơng vùng vai ng và s ờn ng trái, thấu ngực bụng, tổn th ơng nh sau: Sẹo vết th ơng phần mềm mặt sau vai phải: 02%; 02 sẹo vết th ơng song song với cột sống ngực D10, D11, D12: 02% + 02%; 03 sẹo vết th ơng vùng thắt ng phải: 02% + 2% + 01%; 02 sẹo vết th ơng vùng s ờn ng trái: 02%; Sẹo dẫn u khoang màng phổi phải và sẹo dẫn u hố thận hai bên, sẹo vết mổ đ ờng trắng giữa trên d ới rốn: 01% + 01% + 01 % + 03%; Tổn th ơng màng phổi phải, tràn máu khoang màng phổi, hiện tại siêu âm khoang màng phổi hai bên không dày, không có dịch: 03%. Tổn th ơng nhu mô phổi, hiện tại thùy d ới nhu mô phổi phải có đám tổn th ơng dạng đông đặc, kích th ớc (11 x 13)mm trên phim chụp CT-Scanner lồng ngực: 08%; Gãy gai ngang bên phải D11: 03%; Vết th ơng nhu mô thận hai bên đã đ ợc khâu cầm máu nhu mô thận hai bên, hiện tại siêu âm thận trái bờ không đều: 16% + 16%; Tổn th ơng bán phần thần kinh hông khoeo ngoài phải: 16%. Tỷ lệ tổn th ơng cơ thể do th ơng tích gây nên hiện tại là 58%. Các vết th ơng nêu trên do vật sắc nhọn tác động trực tiếp gây nên. Con dao do Cơ quan điều tra Công an t nh Quảng Ninh cung cấp và gửi kèm theo giám định hoàn toàn có thể gây ra đ ợc các th ơng tích cho cháu Trần Ph ơng T.
Tại Bản kết luận giám định số 817 ngày 10/5/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an t nh Quảng Ninh kết luận: Không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy trong mẫu n ớc tiểu thu của Trần A L.
Tại phiếu ch định xét nghiệm sinh hóa của Trung tâm y tế huyện B ngày 01/5/2021 có kết quả: định ợng Ethanol (cồn) trong máu của Trần A L là 0,51.
Tại Bản kết luận giám định số 820 ngày 10/5/2021 và Văn bản trả lời số 37 ngày 23/12/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an t nh Quảng Ninh kết luận: Mẫu máu ghi thu của Trần A L gửi giám định không tìm thấy Etanol (cồn). Quá trình giám định thực hiện theo đúng quy trình giám định và quy định của pháp luật. Trong giám định nồng độ cồn trong máu có nhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả giám định khác nhau khi giám định máu thu của cùng một ng ời nh : thời điểm thu mẫu khác nhau, quá trình bảo quản mẫu vật khác nhau (bảo quản ở nhiệt độ từ 0 độ đến 20 độ hay để trong môi tr ờng tự nhiên), thời gian từ khi thu mẫu đến khi gửi giám định khác nhau.
Văn bản ghi nhận quá trình giám định pháp y tâm thần theo tr ng cầu số 382 và Kết luận giám định pháp y tâm thần theo tr ng cầu số 382 cùng ngày 26/11/2021 của Viện pháp y tâm thần Trung ơng kết luận:
- Tr ớc khi thực hiện hành vi phạm tội, Trần A L không có bệnh tâm thần. Bị cáo đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
- Trong khi thực hiện hành vi phạm tội, Trần A L có biểu hiện nhiễm độc cấp do trực tiếp sử dụng r ợu. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992: bệnh có mã số F10.0. Bị cáo đủ khả năng nhận thức, hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
- Tại thời điểm giám định, Trần A L không có bệnh tâm thần. Bị cáo đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
uá trình điều tra, Trần A L khai nhận hành vi phạm tội nh đã nêu trên và khai: Bị cáo không nhớ đã đâm cháu T bao nhiêu nhát.
Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra, gia đình Trần A L đã bồi th ờng cho bị hại số tiền 31.000.000đ. Đại diện bị hại anh Trần A M (bố cháu Trần Ph ơng T) yêu cầu bị cáo phải bồi th ờng thêm 100.000.000đ tiền thuốc điều trị, đi ại, ăn uống và chăm sóc.
Tại bản cáo trạng số: 19/CT-VKSQN-P2 ngày 21/01/2022, Viện kiểm sát nhân dân t nh Quảng Ninh truy tố bị cáo: Trần A L về tội “Giết ng ời” theo các điểm b, n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Quảng Ninh giữ nguyên quyết định truy tố, sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Giết ng ời” và xử phạt bị cáo từ 12 năm đến 13 năm tù. Chấp nhận sự thỏa thuận bồi th ờng của đại diện bị hại với bị cáo, buộc bị cáo còn phải bồi th ờng tiếp cho bị hại 100.000.000đ (một trăm triệu) đồng và xử ý vật chứng theo quy định của pháp uật.
Tại phiên tòa, luật s bào chữa cho bị cáo có quan điểm: Đồng tình với việc truy tố, xét xử bị cáo về tội giết ng ời, không đồng tình với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về áp dụng tình tiết tăng nặng hình phạt “Phạm tội đến cùng” vì bị cáo phạm tội khi có sử dụng r ợc bia, không có mục đích giết cháu T, thực tế cháu T ch bị tổn hại 58% sức khỏe. Luật s đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt: khai báo thành khẩn, đã tác động bồi th ờng một phần thiệt hại, đ ợc bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo sống ở vùng sâu, vùng xa, có hạn chế về điều khiển hành vi cũng nh nhận thức pháp luật để xử phạt bị cáo từ 07 năm đến 08 năm tù.
Tại phiên tòa, Trợ giúp viên pháp lý D ơng Thị H ơng bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại có quan điểm: Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất côn đồ đối với trẻ em nên phải xử phạt nghiêm khắc và đề nghị xử phạt bị cáo 12 năm tù, buộc phải bồi th ờng tiếp cho bị hại 100.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội nh nội dung bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân t nh Quảng Ninh, đồng ý với yêu cầu bồi th ờng tiếp 100.000.000 đồng của đại diện bị hại, không có ý kiến tranh luận và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện cho bị hại có quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Quảng ninh có quan điểm về tình tiết tăng nặng hình phạt nh sau: Sau khi bị cáo đâm nhát thứ nhất, cháu T bỏ chạy thì bị cáo đuổi tiếp và cháu T ngã xuống đ ờng thì ngay lập tức bị cáo đâm iên tiếp, bị cáo ch dừng lại khi thấy máu chảy và bị hại kêu “ợ, ợ” nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng hình phạt “Phạm tội đến cùng”. Do đó giữ nguyên quan điểm tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an t nh Quảng Ninh, Viện kiểm sát nhân dân t nh Quảng Ninh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. uá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ ời khai của bị cáo, ời khai của bị hại và những ng ời làm chứng, Biên bản khám nghiệm hiện tr ờng, Sơ đồ hiện tr ờng, Bản ảnh khám nghiệm, Kết luận giám định, Bản kết luận giám định pháp y th ơng tích, Phiếu ch định xét nghiệm sinh hóa, Kết luận giám định pháp y tâm thần và các tài liệu, chứng cứ chứng minh khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 30/4/2021, tại khu vực tr ớc cổng nhà anh Sằn A Cthuộc xã H, huyện B, t nh Quảng Ninh, do sử dụng r ợu từ tr ớc, Trần A L đã vô cớ dùng dao nhọn dài 23cm, cán gỗ, có ỡi sắc dài 11,5cm đâm liên tiếp nhiều nhát vào vùng vai và ng của cháu Trần Ph ơng T, làm cháu T bị th ơng tích, tổn hại 58% sức khỏe.
Hành vi nêu trên của bị cáo Trần A L đã phạm vào tội: “Giết ng ời” theo các điểm b, n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.
Điều 123 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) …
b) Giết người dưới 16 tuổi;
…
n) Có tính chất côn đồ;”
Về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, thể hiện bản tính côn đồ, hung hãn đã trực tiếp xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của công dân nói chung và cháu T nói riêng đ ợc pháp luật bảo vệ. Xem xét diễn biến của vụ án chúng ta thấy: ch vì dùng r ợu, bia bị cáo đã không làm chủ đ ợc hành vi mà nhẫn tâm đuổi theo đâm iên tiếp nhiều nhát vào cháu T đến khi cháu T kêu lên mới dừng lại. Việc sử dụng r ợu , bia quá mức là nguyên nhân gây ra nhiều vụ án trong xã hội, gây mất trật tự trị an địa ph ơng, bị xã hội lên án. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo cũng nh có tác dụng răn đe, giáo dục trong phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra, gia đình Trần A L đã bồi th ờng cho bị hại số tiền 31.000.000đ. Đại diện bị hại anh Trần A M (bố cháu Trần Ph ơng T) yêu cầu bị cáo phải bồi th ờng tiếp tất cả các khoản khác theo quy định của pháp luật là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng. Tại phiên tòa bị cáo Trần A L đồng ý với yêu cầu bồi th ờng của đại diện hợp pháp bị hại. Xét thấy đây là sự thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật nên đ ợc chấp nhận.
Nh vậy, tổng cộng số tiền buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi th ờng cho bị hại là 131.000.000 (một trăm ba m ơi mốt triệu) đồng, trừ đi số tiền đã bồi th ờng tr ớc là 31.000.000 (ba m ơi mốt triệu) đồng thì Trần A L còn phải bồi th ờng tiếp 100.000.000 (một trăm triệu) đồng.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt:
Tình tiết tăng nặng: khi bị cáo đâm cháu Trần Ph ơng T nhát đầu tiên, cháu T đã bị ngã và vùng dậy bỏ chạy nh ng bị cáo không dừng lại mà vẫn tiếp tục đuổi theo cầm dao đâm cháu T nhiều nhát liên tiếp cho đến khi thấy cháu T kêu lên mới dừng lại, thể hiện ý thức phạm tội đến cùng. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: theo Kết luận giám định pháp y tâm thần, khi thực hiện hành vi, bị cáo có biểu hiện nhiễm độc cấp do trực tiếp sử dụng r ợu, theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F10.0, bị cáo đủ khả năng nhận thức, hạn chế khả năng điều khiển hành vi. uá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi th ờng một phần cho bị hại. Do đó, bị cáo đ ợc đ ợc áp dụng tình tiết giảm nhẹ hình phạt quy định tại các điểm b, q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra có thu giữ: 01 áo sơ mi trắng; 01 con dao và 01 quần dài màu đen, xét thấy không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: bị cáo Trần A L phạm tội “Giết ng ời”.
Áp dụng: các điểm b, n khoản 1 Điều 123; điểm e khoản 1 Điều 52; các điểm b, q, s khoản 1 Điều 51, Điều 15; khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: bị cáo Trần A L 12 (m ời hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 01/5/2021.
Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 590 và 591 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Trần A L phải bồi th ờng tiếp cho bị hại cháu Trần Ph ơng T 100.000.000 (một trăm triệu) đồng. Đại diện hợp pháp cho bị hại: anh Trần Văn M (Trần A M) đ ợc nhận thay bị hại khoản bồi th ờng.
Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của ng ời đ ợc thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tr ờng hợp bản án, quyết định đ ợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ng ời đ ợc thi hành án dân sự, ng ời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đ ợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Áp dụng: Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong mẫu vật hoàn lại kèm theo Kết luận giám định số: 936/KLGĐ ngày 28/5/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an t nh Quảng Ninh bên trong là: 01 (một) chiếc áo sơ mi dài tay màu trắng, trên áo có thấm nhiều vết màu nâu đỏ nghi là máu và 01 (một) chiếc quần dài màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) gói niêm phong mẫu vật hoàn lại kèm theo Kết luận giám định số: 504/21/TgT ngày 06/7/2021 của Trung tâm pháp y Sở y tế Quảng Ninh bên trong là: 01 (một) con dao dài 23cm, cán dao bằng gỗ dài 11,5cm, ỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 11,5cm, có 01 ỡi sắc và 01 đầu nhọn, đã qua sử dụng (Tình trạng vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng số 59 ngày 09/02/2022 của Cục thi hành án dân sự t nh Quảng Ninh).
Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTV H14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần A L phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 5.000.000 (năm triệu) đồng án phí dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, ng ời bào chữa cho bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp cho bị hại, ng ời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Báo cho bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp cho bị hại, ng ời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Ng ời tham gia tố tụng; - VKSND t nh QN; - Công an t nh QN; - Trại tạm giam Công an t nh QN; - TAND Cấp cao; - VKSND Cấp cao; - THA, L u VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Văn Đoan |