vanban.org

Bản án 30/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 31/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Tuyên bố các bị cáo Lê Anh L và Nguyễn Hoàng Bảo D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[2]. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; điểm b khoản 1 Điều 107 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Lê Anh L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/7/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố các bị cáo Lê Anh L và Nguyễn Hoàng Bảo D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30 /2022/HSST
Ngày: 31 - 5 - 2022.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN TP. HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Mai Thùy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trƣơng Thị Phi Yến – Nguyên Giáo viên Trường THCS Ngô Tất Tố, quận Phú Nhuận, Tp. Hồ Chí Minh.

2. Bà Lê Thị Thu Hƣơng – Nguyên phó trưởng phòng Lao động – Thương binh và xã hội quận Phú Nhuận, Tp. Hồ Chí Minh.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thị Thức – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Mai – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Tp. Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 61/2021/TLST – HS ngày 29/12/2021 đối với các bị cáo:

1. LÊ ANH L; giới tính: nam; sinh ngày 11/9/2002 tại Tp. Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký HKTT: 346/23/1 Đường V, Phường M, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Văn hóa: 1/12; Nghề nghiệp: không; Con ông: Lê Anh D; Con bà: Nguyễn Thị T; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; Tiền án - tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 14/7/2020, bị TAND quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 01/5/2021.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 03/7/2021 (có mặt).

2. NGUYỄN HOÀNG BẢO D, giới tính: nam; sinh ngày 09/10/2003 tại Tp. Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký HKTT: 377/34A Đường V, Phường M, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Văn hóa: 4/12; Nghề nghiệp: không; Con ông: Nguyễn Văn L; Con bà: Nguyễn Thị V; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; Tiền án - tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 23/9/2016 bị Ủy ban nhân dân Phường M, quận B ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường theo Quyết định số 212/QĐ – UBND vì có hành vi cố ý gây thương tích dẫn đến chết người.

Bị cáo tại ngoại có mặt.

* Ngƣời bào chữa: Bào chữa chỉ định cho bị cáo Nguyễn Hoàng Bảo D có ông Võ Tấn T là Luật sư của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

* Ngƣời bị hại: Ông Nguyễn Đức A, sinh năm 1991.

Địa chỉ: 15 Đường Q, Phường B, quận N, Tp. Hồ Chí Minh (vắng mặt).

* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1978 (mẹ ruột).

Trú tại: 377/34A Đường V, Phường M, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

2. Bà Nguyễn Thị Mỹ P, sinh năm 1978 (vắng mặt).

3. Bà Trần Thị Thùy N, sinh năm 1999 (vắng mặt).

Cùng trú tại: thôn P, xã H, huyện C, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 20 phút ngày 02/7/2021, Lê Anh L điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vario, biển số 61N1 – 127.90 chở Nguyễn Hoàng Bảo D đi lòng vòng qua nhiều tuyến đường tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, khi đi đến hẻm 15 Đường Q, Phường B, quận N không có khóa cửa và không có người trông coi, bên trong cổng có để nhiều xe mô tô nên L dừng xe và nói với D: “ Đưa đồ đây, mày ở ngoài để tao vào lấy xe”. D từ vị trí ngồi sau di chuyển lên vị trí lái xe và lấy trong túi quần bên phải phía trước mà D đang mặc 01 bộ đồ phá khóa xe (bao gồm 01 tuýp tự động, 01 đầu nối 08mm; 01 thanh đoản) đưa cho L, L bước vào nhìn thấy bên trong sân có dựng nhiều xe, trong đó có xe Honda Wave, biển số 86B4 – 488.15 đựng sát cửa nên quyết định lấy trộm chiếc xe trên. L dùng đoản bẻ khóa nắp chụp ổ khóa của chiếc xe mô tô trên nhưng không bẻ được. L quay ra ngoài đưa đoản cho D và nói: “ Mày vô coi bẻ khóa xe Wave, chứ tao không bẻ được”. L leo lên xe tiếp tục canh chừng để D bước vào bên trong dùng bộ đoản trên bẻ khóa xe mô tô hiệu Honda Wave mà L nói. D không bẻ được khóa xe và làm gãy một phần đoản trong ổ khóa của chiếc xe trên. D dắt xe lùi ra khỏi vị trí để xe ban đầu khoảng 1,5m (nhưng chưa dắt xe ra khỏi cổng sau căn nhà trên thì ở bên ngoài L bị Công an bắt giữ. Khi phát hiện Công an, D đã cầm theo bộ đoản bỏ chạy và leo lên mái căn nhà số 15/20/14 Đường Q, Phường B, quận N thì bị Công an bắt giữ, thu giữ bộ đoản trên và 01 con dao xếp, đưa về Công an Phường B, quận N lập biên bản quả tang để xử lý.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Hoàng Bảo D khai nhận: Khoảng 2 – 3 ngày trước, Lê Anh L gọi điện thoại cho D nói “Chuẩn bị đồ tao với mày đi trộm xe”. D đồng ý nên vào mạng tìm mua 01 bộ đoản dùng để phá khóa xe với giá 200.000 đồng. Khoảng 19 giờ 20 phút ngày 02/7/2021, D đang ở nhà thì L đi bộ đến nhà và rủ D “đi kiếm tiền”. D hiểu là L rủ D đi trộm cắp tài sản, D đồng ý và lấy bộ phá khóa xe gồm 3 bộ phận và 01 con dao xếp cất trong túi quần bên phải phía trước rồi lấy xe mô tô hiệu Honda Vario biển số 61N1 – 127.90 đưa cho L chở D đi qua nhiều tuyến đường để tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi đi đến trước hẻm 15 Đường Q, Phường B, quận N thì L phát hiện cổng sau có để xe và không có người trông coi nên dừng lại. L và D thực hiện hành vi trộm cắp như đã nêu trên.

Lê Anh L khai nhận: Do cần tiền tiêu xài nên L rủ D thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Việc D mua bộ đoản là công cụ phạm tội ở đâu thì L không biết.

Theo Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Phú Nhuận ngày 07/7/2021 kết luận: 01 xe Honda Wave, màu đen bạc, biển số 86B4 – 488.15, đã qua sử dụng trị giá 13.000.000 đồng.

Vật chứng vụ án: 01 xe Honda Wave, màu đen bạc, biển số 86B4 – 488.15, đã trả cho chủ sở hữu; 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Vario biển số 61N1 – 127.90; 01 bộ dụng cụ bẻ khóa; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11; quần áo…

Tại bản cáo trạng số 02/CT – VKS.PN ngày 27 tháng 12 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận đã truy tố các bị cáo Lê Anh L và Nguyễn Hoàng Bảo D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận phát biểu và kết luận cáo trạng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

- Đối với bị cáo L: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17, Điều 38; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm 0 khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Đối với bị cáo D: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17, Điều 38; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; điểm 0 khoản 1 Điều 52; Điều 101 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:

Tịch thu tiêu hủy bộ dụng cụ bẻ khóa xe và một số quần áo thu giữ;

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11.

* Luật sư Võ Tấn T là Luật sư của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu lời bào chữa cho bị cáo D:

- Thống nhất với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố.

- Về các tình tiết giảm nhẹ: Đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo là đầy đủ. Tuy nhiên do khi phạm tội bị cáo chưa 18 tuổi nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm các chế định đối với người chưa thành niên phạm tội để cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo, sửa chữa lỗi lầm, mau chóng quay lại cuộc sống bình thường, hòa nhập cộng đồng.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì đối với đại diện Viện kiểm sát.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, Luật sư, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện là hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Căn cứ lời khai nhận tội của các bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 19 giờ 20 phút ngày 02/7/2021, bị cáo Lê Anh L và Nguyễn Hoàng Bảo D có hành vi lén lút lấy trộm chiếc xe Honda Wave biển số 86B4 – 488.15 đang để sân sau nhà số 15 Đường Q, Phường B, Quận N có trị giá là 13.000.000 đồng. Hành vi này của các bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương.

Xét, trong vụ án này có đồng phạm, nhưng là đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo L vừa là người khởi xướng, rủ rê bị cáo D đi trộm cắp tài sản, vừa là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo D vừa là người cung cấp phương tiện xe gắn máy đồng thời chuẩn bị công cụ phạm tội khi đã đặt mua trên mạng mua 01 bộ đoản dùng để bẻ khóa xe để đem đi thực hiện hành vi phạm tội. Ngoài ra, xét về nhân thân bị cáo D là người có nhân thân xấu do ngày 14/7/2020, bị TAND quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo không biết tu sửa bản thân tiếp tục phạm tội. Bị cáo D là người chưa thành niên phạm tội (khi phạm tội bị cáo D 17 tuổi 08 tháng 22 ngày), trước khi phạm tội này ngày 08/4/2016, bị cáo đã có hành vi cố ý gây thương tích gây hậu quả chết người và sau khi được cho tại ngoại bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội đang bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Tp. Hồ Chí Minh khởi tố bị can về tội “ Cố ý gây thương tích”.

Về tình tiết tăng nặng: Trong vụ án này, bị cáo L là người khởi xướng, rủ rê bị cáo D đi trộm cắp tài sản nên phải bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; áp dụng thêm tình tiết “ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo D.

Từ những phân tích và đánh giá trên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cân nhắc đến vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo để có mức án phù hợp. Riêng bị cáo D được áp dụng chế định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự như lời đề nghị của Luật sư Tân để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu

. Về trách nhiệm dân sự: các bị cáo chiếm đoạt 01 chiếc xe Honda Wave biển số 86B4 – 488.15, có trị giá là 13.000.000 đồng. Chiếc xe này do bà Nguyễn Thị Mỹ P đứng tên chủ sở hữu hợp pháp. Bà P cho con gái là Trần Thị Thùy N sử dụng làm phương tiện đi lại tại Thành phố Hồ Chí Minh. Khi dịch bệnh Covid 19, chị N về quê nên gửi lại xe trên cho tại phòng trọ và bàn giao xe nhờ anh Nguyễn Đức A trông coi. Chiếc xe này hiện đã được thu hồi trả lại cho bà P nên trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong, các đương sự không có ý kiến yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

. Về xử lý vật chứng:

- Đối với bộ dụng cụ kẻ khóa xe gồm: 01 tuýp tự động; 01 đầu nối 08mm; 01 thanh đoản; 01 con dao bấm. Đây là công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với quần áo các bị cáo mặc khi thực hiện hành vi phạm tội không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu đỏ thu giữ của bị cáo L. Bị cáo khai sử dụng chiếc điện thoại này để liên lạc với D rủ nhau đi trộm cắp tài sản. Đây là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Đối với 01 xe gắn máy hiệu Honda Vario màu xanh đen, biển số 61N1 – 127.90 mà các bị cáo sử dụng đi trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra xác minh xác định: Chiếc xe này biển số thật là 63B9 – 925.64 do ông Nguyễn Thanh B đứng tên chủ sở hữu hợp pháp. Ông B cho em vợ là Võ Thị Y mượn sử dụng và bị mất trộm vào ngày 01/9/2020 tại trước nhà số 221B đường H, Phường M, quận N. Đối với biển số 61N1 - 127.90 là biển số xe mô tô hiệu Honda Air Blade do ông Nguyễn Đăng K đứng tên chủ sở hữu. Ngày 29/6/2021, ông K để xe trước phòng trọ ở 21/16 đường G, Phường C, quận N thì bị mất. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Phú Nhuận đã chuyển chiếc xe này cho Đội cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an quận Phú Nhuận để điều tra. Khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố các bị cáo Lê Anh L và Nguyễn Hoàng Bảo D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[2]. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; điểm b khoản 1 Điều 107 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Lê Anh L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/7/2021.

[3]. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s, i khoản 1 Điều 51; Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng Bảo D 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

[4]. Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ Bộ dụng cụ phá khóa xe mô tô gồm: 01 tuýp tự động, 01 đầu nối 8mm, 01 thanh đoản bị gãy phần đầu.

+ 01 con dao bấm màu đen.

+ 01 áo khoác tay dài màu trắng.

+ 01 quần jean dài màu xám tối.

+ 01 quần jean ngắn màu xanh.

+ 01 áo khoác tay dài màu xanh tối.

+ 01 nón bảo hiểm dạng lưỡi trai màu xanh tối.

+ 01 nón bảo hiểm dạng lưỡi trai màu trắng.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 Điện thoại di động Iphone 11, màu đỏ, số máy: MWK22LL/A, số seri: C7CZ5B2JN72L.

(Theo biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 30/3/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Tp. Hồ Chí Minh).

[5]. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc các bị cáo Lê Anh L và Nguyễn Hoàng Bảo D mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[6]. Quyền kháng cáo:

Các bị cáo, bà V, ông T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án để xin xét xử phúc thẩm.

Người bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ