- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mùa A S phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mùa A S phạm tội: Vận chuyển trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 250 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2022/HS-ST. Ngày: 30-3-2022. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Phương Thảo
Ông Mùi Văn Huấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Bàn Văn Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiệp- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2022/TLST- ST ngày 24 tháng 01 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2022/QĐXXST- HS ngày 21 tháng 02 năm 2022, đối với bị cáo:
Mùa A S; tên gọi khác, không, sinh năm 1973, sinh tại huyện V, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản P, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mùa A L (đã chết) và bà Tráng Thị M, sinh năm 1942; bị cáo có vợ là Sồng Thị M, sinh năm 1975 và 05 con, con lớn sinh năm 1993; con nhỏ sinh năm 2009; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 28/08/2016, Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm cai nghiện ma túy tỉnh Sơn La, thời hạn là 24 tháng.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 25/6/2021cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 00 phút, ngày 25/6/2021, Mùa A S đi thăm bẫy chuột ở khu vực Bản P, xã L, huyện V, sau đó đi vào nhà của Thào A G chơi (Thào A G là bố nuôi của Mùa A S theo phong tục người mông) thì gặp G và một người đàn ông không quen biết đang ở trong nhà. G bảo S nấu mì tôm để ăn sáng. Sau khi ăn sáng xong, G bảo S vận chuyển Hồng phiến (Methamphetamine) từ nhà G ra Quốc lộ 6 cho người đàn ông, đến nơi thì người đàn ông sẽ trả tiền công, S đồng ý, G đưa cho S 01 gói nilon màu đen, S nhận gói nilon và gói thêm bên ngoài bằng vỏ gói mì tôm nhãn hiệu KoKoMi, sau đó cho vào túi nilon màu trắng. Sau khi gói xong, S hỏi mượn xe máy BKS: 26B1-24010 của Giảng để đi đưa hồng phiến. Người đàn ông lạ mặt điều khiển xe máy BKS: 17N6-5080 đi trước, Sua cầm gói hồng phiến và điều khiển xe máy đi theo sau. Khi Sua thấy người đàn ông đi chậm lại, S vượt lên trước. Khi đến gần đường quốc lộ 6 thì S và người đàn ông dừng xe lại song song nhau, cách nhau khoảng 1m. S đưa túi nilon hồng phiến cho người đàn ông. Người đàn ông đó nhận hồng phiến và treo vào móc để đồ chính giữa xe mình. Lúc này tổ công tác Công an xã L, huyện V đến kiểm tra thì người đàn ông đó bỏ chạy trốn vào rừng, tổ công tác truy đuổi nhưng không kịp. S khai nhận vừa giao Hồng phiến cho người đàn ông đã bỏ chạy và tự giác lấy gói nilon treo ở móc để đồ xe máy BKS: 17N6-5080 giao nộp cho tổ công tác bên trong đựng các viên nén màu hồng trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY nghi là methamphetamine. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng, tạm giữ chiếc xe máy BKS: 26B1-24010 và xe máy BKS: 17N6-5080, sau đó dẫn giải S cùng toàn bộ vật chứng bàn giao cho cơ quan CSĐT Công an huyện V để điều tra làm rõ.
Cùng ngày Cơ quan CSĐT Công an huyện V, phối hợp với VKSND huyện V cùng Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành kiểm đếm số viên nén màu hồng khi bắt quả tang Mùa A S được 188 viên, cân tịnh xác định khối lượng được tổng 18,76 gam, lấy 05 viên có khối lượng là 0,48 gam làm mẫu giám định ký hiệu S gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy, loại ma túy, khối lượng ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 1213 ngày 28/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:“Mẫu gửi giám định ký hiệu S là ma túy, loại methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,48 gam, tổng khối lượng ma túy thu giữ là 18,76 gam, loại chất methamphetamine”.
Cáo trạng số: 06/CT-VKS ngày 24/01/2022 của Viện kiểm sát nhân huyện V, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Mùa A S về tội: Vận chuyển trái phép chất ma túy theo điểm h khoản 2 Điều 250 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới ảnh hưởng đến nội dung vụ án, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 250, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố Mùa A S phạm tội: Vận chuyển trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Mùa A Sua từ 10 (Mười) năm 06 (sáu) tháng tù đến 11(Mười một) năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niên phong bên trong đựng 18,28 gam methamphetamine + vỏ gói niêm phong ban đầu + vỏ gói phong bì ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Mùa A S.
- Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của Kiểm sát viên không có ý kiến tranh luận gì.
- Bị cáo nói lời sau cùng: Xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
. Về chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ, Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, Lời khai của người chứng kiến, Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can; cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ; thể hiện: Ngày 25/6/2021, Mùa A S có hành vi Vận chuyển trái phép 18,76 gam methamphetamine, mục đích để nhận tiền công thì bị phát hiện bắt quả tang. Trên cơ sở đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Mùa A S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm h khoản 2 Điều 250 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Tính chất hành vi của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc vận chuyển trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý phạm tội. Bản thân bị cáo đã được đưa đi điều trị nghiện ma túy nên là người có nhân thân xấu. Vì vậy, cần áp dụng mức án nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Bị cáo Mùa A S đang bị tạm giam, Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy bị cáo không có tài sản có giá trị, không có thu nhập, không đủ điều kiện và khả năng thi hành, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án:
- Đối với 01 phong bì niên phong bên trong đựng 18,28 gam methamphetamine + vỏ gói niêm phong ban đầu + vỏ gói phong bì ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Mùa A S là vật cấm lưu hành hoặc không còn giá trị sử dụng tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với vật chứng là chiếc xe máy BKS: 26B1-24010 và Chiếc xe máy BKS: 17N6-5080 hiện đang quản lý ở kho vật chứng Công an huyện V để tiếp tục điều tra đối với Thào A G là có căn cứ, đúng quy định.
Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai nhận đã vận chuyển thuê cho Thào A G, sinh năm 1970, trú tại Bản P, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La để giao cho một người đàn ông không quen biết. Cơ quan điều tra đã xác minh với chính quyền địa phương, kết quả hiện nay Thào A G không có mặt ở địa phương, đi đâu làm gì chính quyền địa phương không nắm được. Ngoài lời khai của S ra, Cơ quan điều tra không thu thập được chứng cứ tài liệu nào khác để chứng minh Thào A G có liên quan đến hành vi phạm tội của Mùa A S nên tách hồ sơ để điều tra xử lý sau đối với Thào A G và người đàn ông nhận ma túy của Sua là có căn cứ đúng quy định.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khóa khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào điểm h khoản 2 Điều 250, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
2. Tuyên bố bị cáo Mùa A S phạm tội: Vận chuyển trái phép chất ma túy.
- Xử phạt bị cáo Mùa A S 11 (Mười một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/6/2021.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niên phong bên trong đựng 18,28 gam methamphetamine + vỏ gói niêm phong ban đầu + vỏ gói phong bì ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Mùa A S.
Theo biên bản giao nhận vật chứng số 28/BBVC-CCTHA ngày 16/02/2022.
4. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -Toà án ND tỉnh; - VKSND huyện; - Công an; - Trại giam; - THA hình sự; - THA dân sự; - Bị cáo; - Sở Tư pháp; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Xuân Hiếu |