vanban.org

Bản án 30/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 29/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lương Tấn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lương Tấn V 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 03/01/2022. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Lương Tấn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lương Tấn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TAND HUYỆN BÌNH SƠN
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2022/HS – ST
Ngày: 29–4–2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đình Chung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Tấn Ba và ông Nguyễn Văn Thạch

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Duy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Khôi – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2022/TLST –HS ngày 11 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2022/QĐXXST – HS ngày 08 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên Lương Tấn V, sinh năm 1983 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn H, sinh năm 1963 và bà Hồ Thị L, sinh năm 1958; có vợ Nguyễn Thị N, sinh năm 1987 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03 tháng 01 năm 2022, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1/ Anh Nông Quang H, sinh năm 1978, nơi ĐKHKTT: Tổ X, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; hiện tạm trú tại: Thôn T, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi (vắng mặt).

2/ Anh Phạm Huỳnh C, sinh năm 1989, nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam; hiện tạm trú tại: Thôn T, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi (vắng mặt).

3/ Anh Bùi Đức D, sinh năm 1989, nơi ĐKHKTT: Tổ X, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; hiện tạm trú tại: Thôn T, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi (có đơn xin xét xử vắng mặt).

4/ Anh Bùi Trần C, sinh năm 1992, nơi ĐKHKTT: Xóm X, phường T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; hiện tạm trú tại: Thôn T, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phương Văn T, sinh năm 1997, nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; hiện tạm trú tại: Thôn T, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi (vắng mặt).

- Người làm chứng:

1/ Anh Đinh Công Đ, sinh năm 1993, nơi ĐKHKTT: Thôn Q, xã B, huyện L, tỉnh Hà Nam; hiện tạm trú tại: Thôn T, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi (vắng mặt).

2/ Anh Đỗ Việt T, sinh năm 1992, nơi ĐKHKTT: Xã T, huyện S, tỉnh Thái Nguyên; hiện tạm trú tại: Thôn T, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi (vắng mặt).

3/ Anh Lưu Văn T, sinh năm 1992, Nơi ĐKHKTT: xã H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; hiện tạm trú tại: Thôn T, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi (vắng mặt).

4/ Anh La Tiến Đ, sinh năm 1988, nơi ĐKHKTT: Xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; hiện tạm trú tại: Thôn T, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do thiếu tiền tiêu xài nên Lương Tấn V nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Ngày 02/01/2022, Lương Tấn V đón xe buýt đi từ nhà đến xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Khoảng 03 giờ ngày 03/01/2022, Lương Tấn V đột nhập vào khu lán trại của công nhân Công ty Trung Nam ở Thôn T, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi để trộm cắp tài sản. Lương Tấn V thấy trong phòng ngủ của công nhân có 04 điện thoại di động, 01 ví da nên lấy và cho vào túi quần rồi đi ra ngoài. Ngay lúc này, một số công nhân ở xung quanh phát hiện nên đã vây bắt và trình báo công an xã Bình Đông đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang rồi chuyển đến công an huyện Bình Sơn tạm giữ.

Tài sản Lương Tấn V trộm cắp gồm: 01 điện thoại di động hiệu Vivo V7 màu đen của Anh Nông Quang H; 01 ĐTDĐ Iphone 6s Plus màu trắng xám của Anh Phạm Huỳnh C; 01 ĐTDĐ Iphone 7 màu hồng của Anh Bùi Đức D; 01 01 ĐTDĐ Vsmar star 5 màu xanh của Anh Bùi Trần C, đối với ví da đã cũ và không có tài sản bên trong của Anh Phương Văn T. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình đã thu hồi tài sản và trả lại cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 04/01/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bình Sơn, kết luận: 01 ĐTDĐ hiệu Vivo màu đen, trị giá là 600.000đồng, 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 6 plus màu trắng xám, trị giá là 1.200.000đồng, 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 7 màu hồng, trị giá là 1.200.000đồng, 01 ĐTDĐ hiệu Vsmart star 5 màu xanh, trị giá là 1.000.000đồng, tổng giá trị tài sản là 4.000.000đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại Bản cáo trạng số 24/CT – VKS – BS, ngày 10/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo Lương Tấn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lương Tấn V khai nhận nội dung như trên.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Lương Tấn V với mức án từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo thống nhất với luận tội của Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên là đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.

Việc vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tại phiên tòa, hồ sơ vụ án thể hiện đã có lời khai, xét thấy việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Lương Tấn V đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và vật chứng thu được trong vụ án, các tài liệu khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 03 giờ ngày 03/01/2022, lợi dụng các công nhân đang ngủ, Lương Tấn V lén lút đột nhập vào khu lán trại của công nhân Công ty Trung Nam ở Thôn T, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi chiếm đoạt tài sản gồm 01 ĐTDĐ hiệu Vivo màu đen, trị giá là 600.000đồng;01ĐTDĐhiệu Iphone 6 plus màu trắng xám, trị giá là 1.200.000đồng; 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 7 màu hồng, trị giá là 1.200.000đồng; 01 ĐTDĐ hiệu Vsmart star 5 màu xanh, trị giá là 1.000.000đồng. Tổng tài sản bị cáo chiếm đoạt là 4.000.000đồng (bốn triệu đồng). Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Lương Tấn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Bị cáo là người có đủ năng lực nhận thức, điều khiển hành vi nhưng vì thiếu sự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức và muốn có tiền tiêu xài mà không cần bỏ sức lao động nên bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Vì vậy cần áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và đấu tranh phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Các bị hại Anh Nông Quang H, Phạm Huỳnh C, Bùi Đức D, Bùi Trần C đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên, được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lương Tấn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lương Tấn V 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 03/01/2022.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lương Tấn V phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ