- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Thế A xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Xét xử vắng mặt anh Phan Thế A và chị Trương Thị Thanh T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2022/HNGĐ-ST Ngày: 21 - 9 - 2022 “V/v : “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Ngọc Lan và ông Hoàng Công Nghĩa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.
Ngày 21 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 76/2022/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2022 về việc "Ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phan Thế A sinh năm 1989.
Nơi cư trú: Thôn Tân H, xã Quảng T, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình. (Anh Phan Thế A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Chị Trương Thị Thanh T, sinh năm 1992.
Nơi cư trú: Thôn Tân H, xã Quảng T, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình. (Chị Trương Thị Thanh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/8/2022, bản tự khai và tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì nguyên đơn, anh Phan Thế A trình bày:
Anh và chị Trương Thị Thanh T lấy nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Quảng H, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình (Nay là Uỷ ban nhân dân xã Quảng H, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình) ngày 16/11/2010. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân trong quá trình vợ chồng chung sống thường hay xảy ra cãi vã, do tính tình vợ chồng không hợp nhau, chị T sống không chung thủy, có quan hệ ngoại tình với người đàn ông khác, mặc dù gia đình đã can ngăn và tha thứ nhưng chị T không nghe. Vì vậy, mâu thuẩn ngày càng trầm trọng, vợ chồng sống ly thân gần hai năm, không ai quan tâm đến ai. Nay anh thấy mâu thuẩn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T.
Về con chung: Qúa trình chung sống anh Phan Thế A và chị Trương Thị Thanh T thống nhất có 01 con chung là Phan Thị Khánh H, sinh ngày 18/3/2011. Sau ly hôn anh A nguyện vong được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung vì con chung hiện nay đang ở với anh và anh không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con vì anh có đủ điều kiện.
Về tài sản chung: Qúa trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung, không nợ gì ai hay ai nợ gì của vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai và đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 23/8/2022, chị Trương Thị Thanh T trình bày: Chị và anh Phan Thế A lấy nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Quảng H, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình (Nay là Uỷ ban nhân dân xã Quảng H, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình) ngày 16/11/2010. Qúa trình vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẩn, do tính vợ chồng không hợp nhau, hai bên không cùng quan điểm sống, hay xảy ra cãi vã, chồng đi làm ăn xa không quan tâm đến vợ con. Hai vợ chồng sống ly thân gần hai năm, không ai quan tâm đến ai, chị về nhà ngoại sinh sống. Nay anh A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì chị cũng đồng ý ly hôn.
Về con chung: Qúa trình chung sống chị và anh Phan Thế A có 01 con chung là Phan Thị Khánh H, sinh ngày 18/3/2011. Hiện nay con đang ở với gia đình nội, sau ly hôn chị đồng ý giao con chung cho anh A tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và chị không cấp dưỡng nuôi con chung vì anh A có đủ điều kiện và không có yêu cầu.
Về tài sản chung: Không có. Hiện tại vợ chồng chị không nợ ai và không ai nợ vợ chồng chị nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Phan Thế A và chị Trương Thị Thanh T làm đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã Quảng T, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình với lý do công việc ở xa đi lại khó khăn nên không thể trực tiếp đến Tòa án giải quyết được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn anh Phan Thế A khởi kiện xin ly hôn với bị đơn chị Trương Thị Thanh T. Bị đơn hiện có hộ khẩu thường trú tại thôn Tân H, xã Quảng T, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn anh Phan Thế A và chị Trương Thị Thanh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Phan Thế A và chị Trương Thị Thanh T yêu nhau tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 16/11/2010 tại UBND xã Quảng H, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình (Nay là xã Quảng H, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình) là hôn nhân hợp pháp. Sau khi lấy nhau, thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc nhưng dần phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân chính là do tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, vợ chồng sống thiếu tin tưởng nhau, sống ly thân đã gần hai năm, mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai, anh A làm đơn xin ly hôn, chị T cũng đồng ý. Xét trình bày của các bên đương sự, Hội đồng xét xử thấy rằng tình cảm vợ chồng đã mâu thuẩn trầm trọng, cuộc chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được,vì vậy, cần công nhận thuận tình ly hôn giữa anh A và chị T là có căn cứ và phù hợp với Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ con chung: Qúa trình chung sống anh Phan Thế A và chị Trương Thị Thanh T thống nhất có 01 con chung là Phan Thị Khánh H, sinh ngày 18/3/2011. Hiện nay con chung đang ở với gia đình nội. Sau ly hôn anh A có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, chị T cũng đồng ý. Xét thấy, hiện nay con chung đang còn nhỏ, đang có có cuộc sống, học tập ổn định, chị T cũng chấp nhận giao con cho anh A tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng, vì vậy cần giao con chung cho anh A tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Chị T không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con vì anh A có đủ điều kiện và không có yêu cầu.
Về tài sản chung: Anh Phan Thế A và chị Trương Thị Thanh T không có tài sản chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Anh Phan Thế A nộp tiền án phí ly hôn để sung vào công quỹ nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Khoản 1 Điều 228; Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 51, 55, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Xét xử vắng mặt anh Phan Thế A và chị Trương Thị Thanh T.
2. Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Phan Thế A và chị Trương Thị Thanh T.
3. Về quan hệ con chung: Giao con chung Phan Thị Khánh H, sinh ngày 18/3/2011 cho anh Phan Thế A tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Chị Trương Thị Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.
4. Về quan hệ tài sản: Không xem xét.
5. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Phan Thế A nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn để sung vào công quỹ Nhà nước. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) anh đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003434 ngày 12 tháng 8 năm 2022. Anh Phan Thế A đã nộp đủ tiền án phí.
Anh Phan Thế A và chị Trương Thị Thanh T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án do Tòa án tống đạt hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã, phường nơi anh, chị thường trú./.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Q Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Q Bình; - VKSND thị xã Ba Đồn; - Chi cục THADS thị xã Ba Đồn; - Các đương sự; - UBND xã Quảng H; - Lưu VP; hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Dương |