- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa bà Vũ Thị Kim D và ông Trang Vũ Diệp T"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2022/HNGĐ-ST Ngày: 15/8/2022 V/v "Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Thủy
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Thanh Trà và ông Nguyễn Xuân Tùng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Minh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vy - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 82/2022/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: bà Vũ Thị Kim D, sinh năm 1987 (có mặt)
Địa chỉ: đường T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng.
2. Bị đơn: Ông Trang Vũ Diệp T, sinh năm 1982 (có mặt)
Địa chỉ: đường A, phường N, quận C, thành phố Đà Nẵng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trình bày tại phiên tòa của bà Vũ Thị Kim Dung, nội dung vụ án như sau:
- Về hôn nhân: Bà Vũ Thị Kim D và ông Trang Vũ Diệp T kết hôn vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Hòa Cường Nam, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện.
Trong quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do không cùng quan điểm sống. Ông T không lo làm ăn, thường xuyên xúc phạm bà. Từ năm 2019, vợ chồng đã sống ly thân. Đến nay, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và không thể khắc phục. Bà D xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông T, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Do đó, bà mong muốn Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.
- Về con chung: Bà Vũ Thị Kim D xác định bà và ông T có 02 con chung tên Trang Gia K - sinh ngày 24/5/2012 và Trang Gia B – sinh ngày 06/01/2014. Ly hôn, bà D có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà Vũ Thị Kim D xác định không có tài sản chung.
- Về nợ chung: Bà Vũ Thị Kim D xác định không có nợ chung.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được Tòa án đã triệu tập nhiều lần để tiến hành hòa giải, tuy nhiên ông Trang Vũ Diệp T vẫn vắng mặt, không tham gia phiên hòa giải. Ngày 27/6/2022, ông T có văn bản trình bày ý kiến đồng ý ly hôn với bà D. Về con chung, ông muốn được nuôi dưỡng cháu Trang Gia K, sinh ngày 24/5/2012. Không ai cấp dưỡng nuôi con cho ai. Không tranh chấp về tài sản chung và nợ chung.
Theo nội dung biên bản lấy lời khai con chung ngày 29/6/2022, cháu Trang Gia K - sinh ngày 24/5/2012 có nguyện vọng được sống chung với ba, Trang Gia B
- sinh ngày 06/01/2014 có nguyện vọng được sống chung với mẹ.
Kết quả xác minh tại tổ dân phố nơi ông T sinh sống xác định, ông T làm nghề lái xe, đi về trong ngày. Hiện ông T đang sống tại đường A, phường N, quận C, thành phố Đà Nẵng cùng với ba mẹ ông và vợ chồng em trai ông. Quá trình sống tại địa phương, gia đình ông T không có biểu hiện vi phạm pháp luật, gia đình có nếp sống văn hóa.
Kết quả xác minh tại tổ dân phố nơi bà D sinh sống xác định, hiện nay bà D đang sống tại đường T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng cùng với mẹ bà và hai cháu Trang Gia K, Trang Gia B. Ngoài ra, hộ còn có vợ chồng anh bà D chung sống.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về quan hệ hôn nhân, đề nghị HĐXX công nhận sự thuận tình ly hôn của ông T và bà D. Về con chung, đề nghị HĐXX giao cháu Trang Gia K cho ông Tuấn trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Trang Gia B cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng, không ai cấp dưỡng nuôi con cho ai. Về tài sản chung, nợ chung, các đương sự không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu xin ly hôn của bà Vũ Thị Kim D đối với ông Trang Vũ Diệp T là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Hải Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung tranh chấp: Bà Vũ Thị Kim D và ông Trang Vũ Diệp T kết hôn vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Hòa Cường Nam, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Xét yêu cầu của bà D thì thấy: Quá trình chung sống, do tính tình, quan điểm sống không phù hợp, dẫn đến ông T và bà D phát sinh nhiều mâu thuẫn. Tình trạng mâu thuẫn đã kéo dài, vợ chồng sống ly thân đã lâu, đến nay đều thống nhất thuận tình ly hôn. HĐXX nhận thấy các bên hoàn toàn tự nguyện ly hôn, phù hợp với quy định của Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.
Về quan hệ con chung: Ông T và bà D có hai con chung tên Trang Gia K
- sinh ngày 24/5/2012 và Trang Gia B – sinh ngày 06/01/2014. Ly hôn, bà D có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Ông T có nguyện vọng được nuôi con chung Trang Gia K, giao con chung Trang Gia B cho bà D nuôi dưỡng, không ai cấp dưỡng nuôi con cho ai. HĐXX xét thấy, cha mẹ đều có trách nhiệm nuôi dưỡng con chung và tình yêu thương dành cho con như nhau. Cả ông T và bà D đều có đủ điều kiện về chỗ ở, kinh tế để nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Xét nguyện vọng của con chung, trên cơ sở đảm bảo việc phát triển về thể chất và tinh thần cho các cháu, HĐXX nhận thấy cần giao con chung Trang Gia K cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Trang Gia B cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng. Các đương sự không yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung: Bà D và ông T không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên HĐXX không đề cập đến.
Về nợ chung: Bà D và ông T xác định vợ chồng không có nợ chung nên HĐXX không đề cập đến.
Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Vũ Thị Kim D phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Các Điều 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Kim D về việc “Tranh chấp ly hôn” đối với ông Trang Vũ Diệp T.
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Vũ Thị Kim D và ông Trang Vũ Diệp T.
2. Xử: Về quan hệ con chung: Giao con chung Trang Gia K - sinh ngày 24/5/2012 cho ông Trang Vũ Diệp T trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung Trang Gia B - sinh ngày 06/01/2014 cho bà Vũ Thị Kim D trực tiếp nuôi dưỡng. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai.
Sau ly hôn, quyền và nghĩa vụ đối với con chung các bên thực hiện theo quy định tại Điều 81, 82 và Điều 83 luật Hôn nhân và gia đình.
3. Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng bà Vũ Thị Kim D phải chịu, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà D đã nộp theo biên lai thu số 0005810 ngày 31/5/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Bà D đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
4. Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND quận Hải Châu; - UBND phường Hòa Cường Nam (Số đk 136, ngày 26/10/2011); - Chi cục THADS quận Hải Châu - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Thủy |