vanban.org

Bản án 30/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y được ly hôn anh Vũ Văn G.

Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị Y trực tiếp nuôi con chung của vợ chồng là cháu Vũ Bá Q, sinh ngày 26/7/2021. Anh Vũ Văn G không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Y cho đến khi đương sự có yêu cầu. Anh Vũ Văn G có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về án phí: Chị Nguyễn Th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Y xin ly hôn anh Vũ Văn G"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y được ly hôn anh Vũ Văn G.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN THẾ
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2022/HNGĐ-ST
Ngày 01/9/2022
V/v: Hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Toàn

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Dương Ngô Phiên;

2/ Ông Trần Hải Đăng.

- Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Hoa-Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải- Kiểm sát viên

Ngày 01 tháng 9 năm 2022, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 79/2022/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2022 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2022/QĐXX- ST ngày 01 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1998; Địa chỉ: Bản C, xã T, huyện Y, tỉnh B- Có mặt.

- Bị đơn: Anh Vũ Văn G, sinh năm 1994; Địa chỉ: Bản C, xã T, huyện Y, tỉnh B-Vắng mặt khi hỏi và tranh luận, có mặt khi tuyên án.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn ngày 23/02/2022, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn (chị Nguyễn Thị Y) trình bày:

Chị và anh Vũ Văn G cưới nhau có được tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T ngày 21/9/2020. Sau khi cưới chị về nhà anh G làm dâu ngay, ở chung với gia đình. Tình cảm vợ chồng ban đầu bình thường, được 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do quan điểm sống bất đồng giữa hai vợ chồng, không hợp nhau, một phần do anh G không tu chí làm ăn, thường xuyên tụ tập chơi bời dẫn đến vợ chồng hay xảy ra cãi cọ nhau. Mâu thuẫn cũng đã được hai bên gia đình góp ý, hòa giải nhưng không thành. Do mâu thuẫn căng thẳng và trầm trọng nên chị đã chuyển ra khỏi nhà anh G từ tháng 01/2022, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay, chấm dứt mọi quan hệ, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định không còn tình cảm gì với anh G nữa. Vì vậy, chị làm đơn xin ly hôn anh G, đề nghị Tòa án giải quyết để anh được ly hôn anh G.

- Về con chung: Chị xác định vợ chồng có 01 con chung là Vũ Bá Q, sinh ngày 26/7/2021, hiện nay cháu được cả hai bên gia đình chăm sóc, cháu vẫn phát triển bình thường. Ly hôn chị đề nghị Tòa án giải quyết để chị được trực tiếp nuôi nuôi con. Về cấp dưỡng nuôi con, chị và anh G tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, công sức, công nợ, ruộng đất và các quan hệ khác: Chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn (anh Vũ Văn G): Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt và cũng không gửi ý kiến, văn bản đến Tòa án, vì vậy không có lời khai trong hồ sơ. Tòa án đã trực tiếp cùng với địa phương về làm việc tại gia đình nhưng anh G vắng mặt. Địa phương cung cấp: Anh G và chị Y kết hôn năm 2020, ngay từ khi kết hôn giữa anh G và chị Y đã phát sinh mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng đã sống ly thân ngay sau một thời gian kết hôn rất ngắn. Vì vậy, địa phương xác định vợ chồng anh G, chị Y khó có khả năng đoàn tụ được. Về con chung: Vợ chồng chị Y, anh G có 01 con chung là cháu Vũ Bá Q, sinh ngày 26/7/2021, cháu hiện đang ở với chị Y và phát triển bình thường, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định. Về tài sản: Chị Y và anh G không có tài sản chung.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến và xác định về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án cơ bản đúng quy định của pháp luật, đối với bị đơn không chấp hành theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 57, các Điều: 81, 82, 83 của Luật hôn nhân gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y được ly hôn anh Vũ Văn G.

Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị Y trực tiếp nuôi con chung của vợ chồng là cháu Vũ Bá Q, sinh ngày 26/7/2021. Anh Vũ Văn G không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Y cho đến khi đương sự có yêu cầu. Anh Vũ Văn G có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Y phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008746 ngày 07/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thế. Xác nhận chị Y đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

Căn cứ đơn khởi kiện đề ngày 23/02/2022 của chị Nguyễn Thị Y đây xác định là quan hệ tranh chấp hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Vũ Văn G là bị đơn đã được Toà án triệu tập, thông báo thụ lý vụ án, thông báo hoà giải hợp lệ đến lần thứ hai và đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến phiên toà xét xử lần thứ 2 nhưng đương sự vẫn vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 207 và điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn có tên nêu trên.

. Về quan hệ tranh chấp:

.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y và anh Vũ Văn G kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận và có đăng ký kết hôn tại UBND xã được xác định là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

.2. Xét yêu cầu về việc xin ly hôn của chị Y thấy rằng: Qua các chứng cứ do các bên xuất trình, lời khai của người làm chứng được biết: Vợ chồng chị Y, anh G ngay từ khi mới kết hôn đã phát sinh mâu thuẫn, xuất phát từ việc hai vợ chồng không hợp nhau. Đến tháng 01/2022 chị Y đã chuyển ra khỏi nhà anh G về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay, chấm dứt quan hệ tình cảm, không còn quan tâm đến nhau. Chị Y có đơn xin ly hôn, anh G đã được Tòa án thông báo và triệu tập đến Tòa án để làm việc, nhưng anh G không đến làm việc theo giấy triệu tập và cũng không có ý kiến phản hồi gì về việc chị Y có đơn đề nghị ly hôn anh G. Địa phương xác định vợ chồng chị Y, anh G khó có khả năng đoàn tụ được nữa. Chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Y và anh G đã phát triển trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng điều 56 của Luật hôn nhân gia đình để giải quyết cho chị Y được ly hôn anh G là phù hợp, cho nên yêu cầu xin ly hôn của chị Y cần được chấp nhận.

.3. Về con chung: Chị Y và địa phương xác định vợ chồng chị Y, anh G có 01 con chung là cháu Vũ Bá Q, sinh ngày 26/7/2021, cháu hiện đang ở với chị Y và phát triển bình thường. Ly hôn chị Y đề nghị được trực tiếp nuôi con, xét thấy hiện nay cháu Q chưa đủ 36 tháng tuổi, cần giao cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là phù hợp với quy định của pháp luật, vì vậy yêu cầu của chị Y về việc nuôi con cần được chấp nhận.

.4. Về tài sản, công nợ, ruộng canh tác, công sức và các quan hệ khác: Chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết cho nên không xem xét giải quyết trong vụ án.

.6. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 57,các Điều: 81, 82, 83 của Luật hôn nhân gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Y được ly hôn anh Vũ Văn G.

Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị Y trực tiếp nuôi con chung của vợ chồng là cháu Vũ Bá Q, sinh ngày 26/7/2021. Anh Vũ Văn G không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Y cho đến khi đương sự có yêu cầu. Anh Vũ Văn G có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Y phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008746 ngày 07/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thế. Xác nhận chị Y đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Báo cho đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Cỡ chữ