vanban.org

Bản án 30/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Quỳnh C; Xử cho chị Phạm Thị Quỳnh C ly hôn anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị Quỳnh C tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con Nguyễn Quốc T, sinh ngày 04/4/2018 đến khi con đủ 18 tuổi. Giao cho anh Nguyễn Văn T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con Nguyễn Gia B, sinh ngày 08/01/2016 đến khi con đủ 18 tuổi. Ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Phạm Thị Quỳnh C và anh Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Quỳnh C; Xử cho chị Phạm Thị Quỳnh C ly hôn anh Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ - TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2022/HNGĐ - ST
Ngày: 07/9/2022
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Đàm Nhân Trác.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hồng

2. Ông Phạm Xuân Sang

-Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Anh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ - tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hƣơng - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 112/2022/TLST - HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 21A/2022/QĐXXST

- HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2022/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2022, giữa các đƣơng sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Quỳnh C, sinh năm 1995; nơi đăng ký HKTT: Thôn An P, xã Nguyên G, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng; nơi cƣ trú: Thôn Đồng T, xã Tiên Đ, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng;

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1996; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn An P, xã Nguyên G, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng.

Ngƣời làm chứng: Bà Đỗ Thị H, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn An P, xã Nguyên G, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng.

(Chị C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh T và bà Hiền đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu khác có trong hồ sơ, nguyên đơn là chị Phạm Thị Quỳnh C trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn T tổ chức lễ cƣới theo phong tục tập quán tại địa phƣơng vào năm 2015 nhƣng đến năm 2016 anh, chị mới đến UBND xã Nguyên Giáp, huyện Tứ Kỳ làm thủ tục đăng ký kết hôn và đƣợc UBND xã Nguyên Giáp, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng tổ chức đăng ký và cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 19/02/2016. Sau ngày cƣới anh, chị sống cùng với bố mẹ chồng tại thôn An Phú, xã Nguyên Giáp. Cuộc sống chung vợ chồng vui vẻ, hạnh phúc đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không thống nhất đƣợc trong cách làm ăn cũng nhƣ sinh hoạt hàng ngày, anh không tu chí làm ăn, thƣờng xuyên sa vào các tệ xã hội nhƣ lô đề, cờ bạc, dẫn đến nợ nần, nhiều ngƣời đã đến nhà đòi nợ, đe dọa chị, khiến cho cả gia đình phải sợ hãi. Chị và gia đình nhà chồng đã phải đi vay mƣợn, bán đất để trả nợ cho anh nhƣng anh không thay đổi mà hết lần này đến lần khác báo nợ về gia đình. Do kinh tế gia đình khó khăn không trả nợ cho anh nữa thì anh gây sự, chửi bới, hành hạ chị. Chị không chịu đựng đƣợc đã về nhà bố mẹ đẻ ở thôn Đồng Tâm, xã Tiên Động, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng sinh sống từ tháng 6/2021, kể từ đó đến nay anh chị sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên chị khởi kiện xin ly hôn với anh T.

Về con chung : Chị và anh T có 02 con chung là Nguyễn Gia B, sinh ngày 08/01/2016 và Nguyễn Quốc T, sinh ngày 04/4/2018, hiện cháu Bảo đang sống cùng với anh T, cháu Trọng đang sống cùng với chị. Quan điểm của chị khi ly hôn chị đề nghị đƣợc nuôi con là Nguyễn Quốc T, anh T nuôi con là Nguyễn Gia B đến khi các con đủ 18 tuổi. Anh, chị không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng cho con.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã triệu tập anh T đến làm việc nhƣng anh T vắng mặt không có lý do.

Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng bà Đỗ Thị H trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh T. Chị C và anh T kết hôn với nhau là tự nguyện và đƣợc hai bên gia đình họ hàng tổ chức lễ cƣới theo phong tục địa phƣơng, đƣợc UBND xã Nguyên giáp tổ chức đăng ký và cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào năm 2016. Sau khi kết hôn anh T, chị C sống chung cùng với gia đình bà. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đƣợc khoảng thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thƣờng xuyên xẩy ra cãi nhau, gia đình đã nhiều lần khuyên bảo động viên nhƣng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, chị C đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ tháng 6/2021 đến nay, vợ chồng anh chị sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Nay chị C có đơn khởi kiện xin ly hôn anh T, theo quan điểm của bà không mong muốn anh chị ly hôn nhƣng nếu chị C kiên quyết xin ly hôn anh T bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Anh T, chị C có hai con chung là Nguyễn Gia B, sinh ngày 08/01/2016 và Nguyễn Quốc T, sinh ngày 04/4/2018, hiện cháu Bảo đang sống cùng với anh T và bà, cháu Trọng đang sống cùng với chị C. Quan điểm của bà cũng nhƣ quan điểm của anh T nếu chị C kiên quyết ly hôn, đề nghị Tòa án để anh T tiếp tục nuôi cháu Bảo, bà sẽ hỗ trợ anh T trong việc chăm sóc cháu Bảo. Chị C nuôi cháu Trọng. Anh, chị không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng cho con.

Kết quả xác minh tại Uỷ ban nhân dân xã Nguyên Giáp, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xác định:

Anh T, chị C kết hôn với nhau vào năm 2016, đƣợc UBND xã Nguyên Giáp cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 19/02/2016. Sau khi kết hôn anh chị sinh sống tại địa phƣơng. Đến cuối năm 2019 vợ chồng anh T, chị C mâu thuẫn, nguyên nhân chính do anh T không tu chí làm ăn, không quan tâm chăm lo gì đến gia đình, thƣờng xuyên xa vào các tệ nạn xã hội, dẫn đến nợ nần, gia đình anh T đã phải bán đất để trả nợ cho anh nhƣng anh không thay đổi mà nợ hết lần này đến lần khác dẫn đến kinh tế gia đình sa sút, chị chán nản đã cùng con nhỏ bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ tháng 6/2021 đến nay. Hiện tại anh chị sống mỗi ngƣời một nơi, không quan tâm đến nhau. Anh T làm nghề lao động tự do, đang ở nhà cùng với bà Hiền (mẹ anh T) đang nuôi một con của anh chị là cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 08/01/2016. Chị C đi làm công ty, có thu nhập, hiện đang nuôi con nhỏ là cháu Nguyễn Quốc T, sinh ngày 04/4/2018. Theo quan điểm của địa phƣơng nếu chị C, anh T ly hôn, đề nghị Toà án giải quyết theo nguyện vọng của anh chị và theo quy định của pháp luật để anh chị sớm ổn định cuộc sống và đảm bảo cuộc sống tốt nhất cho các con.

Tại phiên tòa: Chị C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm nhƣ đã trình bày. Anh T đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhƣng vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng có quan điểm xác định việc Tòa án thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Quỳnh C là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật. Quá trình xây dựng hồ sơ, thu thập chứng cứ, Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của BLTTDS. Trong thời hạn giải quyết vụ án, các bên đƣơng sự không tự thỏa thuận đƣợc các vấn đề cần giải quyết trong vụ án nên Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ đƣa vụ án ra xét xử. Đối với nguyên đơn đã chấp hành đúng theo quy định tại các điều 70, 71 của BLTTDS; đối với bị đơn chƣa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 72 của BLTTDS; Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí toà án. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Phạm Thị Quỳnh C, đề nghị xử cho chị Phạm Thị Quỳnh C đƣợc ly hôn anh Nguyễn Văn T; Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị Quỳnh C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con Nguyễn Quốc T, sinh ngày 04/4/2018 đến khi con đủ 18 tuổi. Giao cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con Nguyễn Gia B, sinh ngày 08/01/2016 đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị C, anh T không yêu cầu phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng cho con. Về án phí: Chị C phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử thấy:

Về tố tụng: Chị Phạm Thị Quỳnh C khởi kiện ly hôn anh Nguyễn Văn T; nơi cƣ trú tại xã Nguyên Giáp, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.

Trong quá trình giải quyết, Toà án gửi Thông báo về việc thụ lý vụ án và giấy triệu tập anh T đến toà làm việc nhƣng anh T không có mặt. Tòa án giao các văn bản tố tụng của Tòa án cho ngƣời thân của anh T để giao và thông báo cho anh T biết về yêu cầu khởi kiện của chị C. Tuy nhiên anh T sau khi đƣợc gia đình giao và thông báo về các văn bản tố tụng của Toà án cũng không thể hiện quan điểm cũng nhƣ không đến Tòa án để làm việc.Tòa án đã giao thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhƣng anh T vắng mặt, nên Tòa án không tiến hành hòa giải đƣợc. Tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn, đã đƣợc triệu tập hợp lệ, chị C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt lần thứ 2 không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đƣơng sự tại phiên tòa.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Quỳnh C và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Nguyên Giáp, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng ngày 19/02/2016. Nhƣ vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị C và anh T là hôn nhân hợp pháp. Căn cứ lời khai của chị C, kết quả xác minh tại địa phƣơng, lời khai của ngƣời làm chứng là bà Đỗ Thị H, có căn cứ xác định nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, thƣờng xuyên xẩy ra cãi nhau, một phần do anh T không tu chí làm ăn, không quan tâm chăm lo gì đến gia đình, thƣờng xuyên xa vào các tệ nạn xã hội, dẫn đến nợ nần, gia đình đã phải trả nợ cho anh nhiều lần nhƣng anh không thay đổi dẫn đến kinh tế gia đình xa sút, chị đã cùng con nhỏ bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ tháng 6/2021, anh cũng không một lần nào tìm chị về, tình cảm vợ chồng nhạt dần, anh chị không còn quan tâm đến nhau nữa và anh, chị cũng không có biện pháp gì để cải thiện tình cảm vợ chồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh T đã nhiều lần đƣợc Tòa án triệu tập để lấy lời khai, đồng thời hòa giải việc ly hôn với chị C, nhƣng anh T không đến, cũng không thể hiện quan điểm muốn vợ chồng đoàn tụ, qua đó thể hiện sự không tôn trọng pháp luật và càng thể hiện hiện ý thức bỏ mặc, không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử xét thấy thực tế tình trạng hôn nhân giữa chị C và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc.Vì vậy, căn cứ các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị C ly hôn với anh T là phù hợp.

Về con chung: Chị C và anh T có 02 con chung là Nguyễn Gia B, sinh ngày 08/01/2016 và Nguyễn Quốc T, sinh ngày 04/4/2018, hiện cháu Bảo đang sống cùng với anh T, cháu Trọng đang sống cùng với chị. Khi ly hôn chị có quan điểm đề nghị Tòa án giao con là Nguyễn Quốc T cho chị chăm sóc, nuôi dƣỡng và giao con Nguyễn Gia B cho anh T chăm sóc, nuôi dƣỡng đến khi các con đủ 18 tuổi. Anh, chị tự nguyện không yêu cầu phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng cho con. Xét thấy: cháu Trọng còn nhỏ, chị C có nguyện vọng muốn đƣợc nuôi cháu Trọng là phù hợp. Anh T không có quan điểm tại Tòa án nhƣng có quan điểm qua bà Hiền mẹ anh T, anh đề nghị đƣợc chăm sóc, nuôi dƣỡng con Nguyễn Gia B, nguyện vọng của anh là chính đáng. Do vậy, cần giao con chung Nguyễn Gia B cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng; giao con chung Nguyễn Quốc T cho chị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng, chấp nhận sự tự nguyện của chị C, anh T không yêu cầu phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng tiền nuôi con cho nhau là phù hợp quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về tài sản chung: Chị C không yêu cầu giải quyết. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị C khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều: 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Quỳnh C; Xử cho chị Phạm Thị Quỳnh C ly hôn anh Nguyễn Văn T.

2. Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị Quỳnh C tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con Nguyễn Quốc T, sinh ngày 04/4/2018 đến khi con đủ 18 tuổi. Giao cho anh Nguyễn Văn T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con Nguyễn Gia B, sinh ngày 08/01/2016 đến khi con đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị C, anh T không yêu cầu phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng cho con. Chị C, anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai đƣợc cản trở.

3. Về án phí: Chị Phạm Thị Quỳnh C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sơ thẩm (Hôn nhân gia đình) đƣợc đối trừ số tiền chị đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số AA/2020/0004488 ngày 24/5/2022 tại C cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày đƣợc giao bản án hoặc từ ngày bản án đƣợc niêm yết./.

Cỡ chữ