vanban.org

Bản án 30/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 24; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” của chị Lương Thị N đối với anh Nguyễn Văn Công. Về quan hệ hôn nhân: Xử chị Lương Thị N và anh Nguyễn Văn C ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn: Chị Lương Thị N; Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 24; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SƠN DƯƠNG
TỈNH TUYÊN QUANG
—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2022/HNGĐ-ST
Ngày 12-4-2022
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Cường.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Vượng.

2. Ông Ma Quốc Thể.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Trần Thị Minh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thu Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 12/4/2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 482/2021/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2021 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lương Thị N – Sinh năm: 1990.

Nơi ĐKHKTT: Thôn L, xã Q, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

Chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã Q, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

Vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C – Sinh năm: 1986.

Địa chỉ: Thôn L, xã Q, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện, các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Lương Thị N vẫn giữ nguyên quan điểm trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị N và ông C trước khi kết hôn có được tìm hiểu nhau và có đăng ký kết hôn ngày 16 tháng 11 năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Thời gian đầy vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Lý do mâu thuẫn là do cuộc sống gia đình có nhiều điều bất đồng quan điểm trong làm ăn kinh tế, cuộc sống không hòa thuận, thường xuyên xảy ra cãi vã nhau. Chị N xét thấy tình cảm của vợ, chồng không còn, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, không thể khắc phục nữa nên chị N đề nghị Tòa án giải quyết cho chị N và anh C ly hôn với nhau để mỗi người có một cuộc sống riêng.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị N và anh C có 02 con chung.

- Cháu Nguyễn Lương Bảo A – Sinh ngày: 29/5/2010.

- Cháu Nguyễn Thị Bảo M – Sinh ngày: 12/02/2013.

Chị N có quan điểm sau khi ly hôn, sẽ nhận trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu M đến khi cháu M trưởng thành, đủ 18 tuổi. Giao cháu A cho anh C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu A trưởng thành, đủ 18 tuổi. Chị N và anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung và được quyền đi lại thăm con chung.

Về tài sản chung và công nợ: Chị Lương Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo Biên bản lấy lời khai, bị đơn anh Nguyễn Văn C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh C và chị N trước khi kết hôn có được tìm hiểu nhau và có đăng ký kết hôn ngày 16 tháng 11 năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Lý do mâu thuẫn là do cuộc sống gia đình có nhiều điều bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên xảy ra cãi vã nhau. Vợ chồng anh Công, chị N đã ly thân với nhau từ tháng 12/2021 cho đến nay. Nay chị N có đơn xin ly hôn, anh C nhất trí ly hôn với chị N để mỗi người có một cuộc sống riêng.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng anh C và chị N có 02 con chung.

- Cháu Nguyễn Lương Bảo A – Sinh ngày: 29/5/2010.

- Cháu Nguyễn Thị Bảo M – Sinh ngày: 12/02/2013.

Anh C có quan điểm sau khi ly hôn, sẽ nhận trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu A đến khi cháu A trưởng thành, đủ 18 tuổi. Giao cháu M cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu M trưởng thành, đủ 18 tuổi. Anh C và chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và công nợ: Anh Nguyễn Văn C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của các đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án không có gì sai phạm.

Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang về việc giải quyết vụ án:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” của chị Lương Thị N đối với anh Nguyễn Văn Công.

2. Về quan hệ hôn nhân: Xử chị Lương Thị N và anh Nguyễn Văn C ly hôn.

3. Về con chung:

- Giao cháu Nguyễn Lương Bảo A – Sinh ngày: 29/5/2010 cho anh Nguyễn Văn C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu A trưởng thành, đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, kể từ ngày 12/4/2022.

- Giao cháu Nguyễn Thị Bảo M – Sinh ngày: 12/02/2013 cho chị Lương Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu A trưởng thành, đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, kể từ ngày 12/4/2022.

Chị Lương Thị N và anh Nguyễn Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trên cơ sở lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con.

4. Về tài sản, công nợ: Chị Lương Thị N và anh Nguyễn Văn C không yêu cầu giải quyết nên không đề nghị xem xét, giải quyết.

5. Về án phí; Quyền kháng cáo: Theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và phần đương sự trình bày tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết.

- Về quan hệ tranh chấp: Chị Lương Thị N và anh Nguyễn Văn C là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nên chị Lương Thị N khởi kiện về việc xin ly hôn với anh Nguyễn Văn C và giải quyết về con chung. Do vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về thẩm quyền giải quyết: Do đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và các đương sự đều có hộ khẩu thường trú tại xã Q, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang theo điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị N và anh Nguyễn Văn C xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo đúng các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 16/11/2009 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang nên đây là hôn nhân hợp pháp. Cả hai đương sự đều thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ bất đồng quan điểm trong cuộc sống, mâu thuẫn đã sâu sắc, không thể hàn gắn. HĐXX thấy rằng, thực tế tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh C mâu thuẫn trầm trọng, không thể khắc phục được nữa, cuộc sống chung vợ chồng không hòa hợp, mục đích hôn nhân không đạt được, giữa vợ chồng đều xác định không còn tình cảm với nhau. Nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N với anh C là có căn cứ, phù hợp với quan điểm của các đương sự.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị N và anh C có 02 con chung.

- Cháu Nguyễn Lương Bảo A – Sinh ngày: 29/5/2010.

- Cháu Nguyễn Thị Bảo M – Sinh ngày: 12/02/2013.

Chị Lương Thị N và anh Nguyễn Văn C cùng có nguyện vọng sau khi ly hôn, sẽ giao cháu A cho anh C và giao cháu M cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi.

HĐXX nhận thấy: Cháu Nguyễn Lương Bảo A và cháu Nguyễn Thị Bảo M đang ở độ tuổi rất cần sự quan tâm, giáo dục một cách thường xuyên của cha, mẹ để đảm bảo sự phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần, sức khỏe và nhân cách. Chị N và anh C có nơi cư trú rõ ràng, vẫn đảm bảo việc nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu ăn học đầy đủ nên đảm bảo được về thời gian, điều kiện sinh hoạt, học tập cho các cháu. Cháu A có nguyện vọng muốn được ở cùng với bố là anh Công, cháu M có nguyện vọng muốn được ở với cùng với mẹ là chị N. Nguyện vọng của cháu A và cháu M cũng phù hợp với nguyện vọng của chị N, anh Công.

Từ những phân tích trên, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con chung, cần chấp nhận nguyện vọng của chị Lương Thị N và anh Nguyễn Văn C về việc nuôi con chung. Giao cháu Nguyễn Lương Bảo A cho anh Nguyễn Văn C và giao cháu Nguyễn Thị Bảo M cho chị Lương Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi.

Chị Lương Thị N và anh Nguyễn Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. [4] Về tài sản chung và công nợ: Chị Lương Thị N và anh Nguyễn Văn C không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị Lương Thị N là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Chị Lương Thị N và anh Nguyễn Văn C được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; khoản 1, khoản 3 Điều 81; Điều 82; khoản 2 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 271; Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Điểm a khoản 1 Điều 24; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” của chị Lương Thị N đối với anh Nguyễn Văn Công.

2. Về quan hệ hôn nhân: Xử chị Lương Thị N và anh Nguyễn Văn C ly hôn.

3. Về con chung:

- Giao cháu Nguyễn Lương Bảo A – Sinh ngày: 29/5/2010 cho anh Nguyễn Văn C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Thư trưởng thành, đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, kể từ ngày 12/4/2022.

- Giao cháu Nguyễn Thị Bảo M – Sinh ngày: 12/02/2013 cho chị Lương Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Thư trưởng thành, đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, kể từ ngày 12/4/2022.

Chị Lương Thị N và anh Nguyễn Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trên cơ sở lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con.

4. Về án phí: Chị Lương Thị N phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000đ theo biên lai số: AA/2021/0001768 ngày 20 tháng 10 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang (Chị Lương Thị N đã nộp đủ tiền án phí).

5. Quyền kháng cáo: Chị Lương Thị N và anh Nguyễn Văn C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ