- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Cao Thị Hồng Nh và anh Nguyễn Văn V.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2022/HNGĐ-ST Ngày 27 - 12 - 2022 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Quốc Huy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hải Hà và bà Đỗ Thị Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Duy Thường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 158/2022/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Cao Thị Hồng Nh, sinh năm 1980.
Người giám hộ cho chị Nh: Bà Cao Thị Nh, sinh năm 1955 (mẹ đẻ của chị Nh); cùng địa chỉ: Thôn N, xã B, huyện L, tỉnh H.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn Tr, xã Tr, huyện L, tỉnh H.
Phiên toà có mặt: Chị Nh, bà Nh và anh V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 04/11/2022, lời khai của nguyên đơn chị Cao Thị Hồng Nh; lời khai của bị đơn anh Nguyễn Văn V, cùng các tài liệu, chứng cứ lưu trong hồ sơ vụ án như sau:
- Về hôn nhân: Chị Cao Thị Hồng Nh và anh Nguyễn Văn V lấy nhau là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 26/6/2002 tại UBND xã Nhân Đạo (nay là xã Trần Hưng Đạo), huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn.
Theo chị Cao Thị Hồng Nh trình bày: Sau khi cưới, chị và anh V chung sống tại nhà bố mẹ đẻ anh V được khoảng 06 tháng thì anh V xảy ra mâu thuẫn với bố đẻ, nên vợ chồng chị bị gia đình nhà chồng đuổi ra khỏi nhà. Chị và anh V mượn nhà riêng của bố mẹ đẻ chị ở cùng thôn Nội Rối, xã Bắc Lý để ở. Vợ chồng chị chung sống được khoảng 01 tháng thì anh V bỏ nhà đi miền Nam. Anh V thường hay đi làm ở miền Nam khoảng 02 đến 03 năm mới về thăm nhà 01 lần, mỗi lần về ở nhà khoảng 01 đến 02 tháng rồi lại đi. Vì thế thời gian chị và anh V chung sống cùng nhau không nhiều, nhưng mỗi lần vợ chồng ở bên nhau lại xảy ra va chạm, mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng có nhiều bất đồng trong tính cách, quan điểm sống, do chị bị mắc bệnh tâm thần, lại bị hạn chế về khả năng nghe và nói nên ít chia sẻ, giao tiếp được với mọi người, trong khi anh V là người nóng tính, cục cằn, lại hay có những hành vi bạo hành gia đình với vợ con. Anh V đi làm nhưng không mang tiền về cho chị nuôi con, không trách nhiệm kinh tế với vợ con nên vợ chồng chị thường xuyên xảy ra đánh, chửi nhau. Vợ chồng chị đã chính thức sống ly thân từ tháng 9/2021 cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh V.
Anh Nguyễn Văn V cho rằng: Vợ chồng anh chung sống hòa thuận đến năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong việc nuôi dạy con chung. Do con gái lớn của anh là cháu Nguyễn Thị Phương Th hay trốn học đi chơi, anh bực mình có đánh, chửi cháu. Chị Nh và mẹ đẻ chị Nh thì bênh cháu Th nên giữa anh và chị Nh có xảy ra đánh, chửi nhau. Vợ chồng anh mâu thuẫn căng thẳng nhất là vào dịp tháng 12/2021, khi vợ chồng mâu thuẫn, anh bực tức có tát chị Nh vài cái, gia đình chị Nh làm đơn ly hôn và anh đã ký đơn. Vợ chồng anh đã sống ly thân từ tháng 12/2021 cho đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị Nh có đơn khởi kiện ly hôn, anh hoàn toàn nhất trí.
- Về con chung: Chị Nh và anh V cùng xác nhận vợ chồng có 03 con chung: Cháu Nguyễn Thị Phương Th, sinh năm 2003, hiện đã đủ tuổi trưởng thành, tự lập và có gia đình riêng. Chị Nh và anh V không phải trách nhiệm nuôi dưỡng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với cháu Nguyễn Gia L, sinh ngày 15/7/2009 và cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 19/9/2016 đều do chị Nh nuôi dưỡng. Ngày 17/11/2022, anh V đến đón cháu L về nuôi dưỡng. Nếu vợ chồng ly hôn, chị Nh yêu cầu được nuôi dưỡng cả 02 cháu L và B, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung. Anh V yêu cầu được nuôi 01 con chung, anh nuôi con nào cũng được, anh và chị Nh không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Cháu L có đơn đề nghị xin được ở với anh V.
- Về tài sản, công nợ và các vấn đề khác: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Toà án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng anh V vắng mặt nên không hòa giải được.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn chị Cao Thị Hồng Nh giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn V; chị Nh yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Nguyễn Gia B, để anh V nuôi cháu Nguyễn Gia L, đôi bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau; các vấn đề khác chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị Nh tự nguyện nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Bị đơn anh Nguyễn Văn V nhất trí ly hôn với chị Nh. Anh V xác nhận sau khi chị Nh có đơn khởi kiện ly hôn, anh đã chủ động đón cháu L về nuôi. Hiện tại anh không ở cùng nhà với bố mẹ mà thuê nhà ở riêng tại thị trấn Vĩnh Trụ, cháu L đang ở cùng anh và hàng ngày cháu tự đi xe đạp đi học; về con chung anh yêu cầu được nuôi cháu B, để chị Nh nuôi cháu L, tuy nhiên anh cũng xác nhận hiện tại anh đang làm thợ ghép cốt pha, đổ bê tông cho Công ty xây dựng Hà Phương, làm việc tại các công trình xây dựng ở thị trấn Vĩnh Trụ và các xã Nhân Khang, Nhân Chính, anh không có thời gian để nuôi dưỡng, chăm sóc cho cả 02 con chung, nếu anh được nuôi cháu B thì các ngày thứ 7, chủ nhật cháu không đi học, anh phải đưa cháu đến công trình nơi anh làm việc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân có quan điểm: Về tố tụng, người tiến hành tố tụng và các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật; về việc giải quyết vụ án: Đề nghị xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Cao Thị Hồng Nh và anh Nguyễn Văn V. Về con chung, đề nghị giao cháu Nguyễn Gia B cho chị Nh tiếp tục nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Gia L cho anh V tiếp tục nuôi dưỡng, đôi bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Các vấn đề khác ngoài phạm vi yêu cầu khởi kiện nên không giải quyết. Chị Nh được miễn án phí ly hôn sơ thẩm, chấp nhận sự tự nguyện của chị Nh nộp phần án phí ly hôn sơ thẩm của anh V.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ do chị Cao Thị Hồng Nh cung cấp, có cơ sở xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Cao Thị Hồng Nh và anh Nguyễn Văn V là hợp pháp. Chị Nh và anh V cùng xác nhận quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng có nhiều bất đồng trong tính cách, quan điểm sống, trong việc nuôi dạy con chung. Vợ chồng xảy ra đánh, chửi nhau và đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Nay chị Nh và anh V đều xác định tình cảm vợ chồng không còn và đều thống nhất ly hôn. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, việc chị Nh và anh V thuận tình ly hôn là tự nguyện, phù hợp với thực tế và pháp luật được quy định tại Điều 51 và Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Trong vụ án này, chị Nh và anh V có tranh chấp về việc nuôi con chung. Anh V có lời khai đề nghị được nuôi 01 con chung, anh nuôi con nào cũng được và anh cũng đã chủ động đón cháu L về nuôi. Cháu L cũng có đơn đề nghị xin được ở với anh V. Tại phiên tòa, chị Nh cũng đồng ý để anh V nuôi cháu L, tuy nhiên anh V lại thay đổi yêu cầu xin được nuôi cháu B, để chị Nh nuôi cháu L. Sau khi xem xét yêu cầu của đương sự, nguyện vọng của con chung và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xét điều kiện thực tế hiện tại anh V đang nuôi cháu L, chị Nh nuôi cháu B, điều kiện cuộc sống của các cháu đang được đảm bảo, ổn định nên giao chị Nh tiếp tục nuôi cháu B, để anh V nuôi cháu L là hoàn toàn phù hợp; mặt khác cháu B còn nhỏ cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ nhiều hơn và chị Nh cũng được bố mẹ hỗ trợ, tạo điều kiện chăm sóc, đưa đón cháu B đi học; còn anh V đang thuê nhà ở riêng, không có sự hỗ trợ của gia đình trong việc chăm sóc con chung, anh V cũng thừa nhận nếu anh được nuôi cháu B thì các ngày thứ 7, chủ nhật cháu không đi học, anh phải đưa cháu đến công trình nơi anh làm việc. Như vậy, anh V không đảm bảo được việc nuôi dưỡng, chăm sóc cho cháu B, yêu cầu được nuôi cháu B của anh là không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị Nh và anh V không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Những vấn đề khác ngoài phạm vi yêu cầu của các đương sự nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Chị Cao Thị Hồng Nh là người khuyết tật nên được miễn án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Nh nộp phần án phí ly hôn sơ thẩm của anh Nguyễn Văn V.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 147, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 55, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Cao Thị Hồng Nh và anh Nguyễn Văn V.
2. Về con chung:
- Giao chị Cao Thị Hồng Nh được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 19/9/2016 cho đến khi cháu B đủ 18 tuổi.
- Giao anh Nguyễn Văn V được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Gia L, sinh ngày 15/7/2009 cho đến khi cháu L đủ 18 tuổi.
Chị Cao Thị Nh, anh Nguyễn Văn V không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về án phí sơ thẩm: Chị Cao Thị Hồng Nh được miễn án phí ly hôn sơ thẩm. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Nh nộp phần án phí ly hôn sơ thẩm của anh Nguyễn Văn V là 75.000 (Bảy mươi lăm nghìn) đồng. Được đối trừ vào tiền tạm ứng án phí chị Nh đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số AA/2021/0001810 ngày 09 tháng 11 năm 2021, chị Nh được hoàn lại 225.000 (Hai trăm hai mươi lăm nghìn) đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Lý Nhân; - Chi cục THADS huyện Lý Nhân; - UBND xã Trần Hưng Đạo; - Đương sự; - Lưu: hồ sơ + văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đỗ Quốc Huy |