- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2022/HNGĐ-ST Ngày: 28-7-2022 V/v: tranh chấp ly hôn và nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Cẩm Hồng.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chí Công - Ông Đặng Văn Hai.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Vân An là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 28 tháng 7 năm 2022, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số:198/2021/TLST-HNGĐ, ngày 14/6/2021, về việc “ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 198/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 27 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 313/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 13 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Võ Thị Thanh T, sinh năm 1988.
Địa chỉ: 157A/2, ấp HĐ, xã TH, huyện LV, ĐT.
Chổ ở: 202/3, ấp HT, xã TH, huyện LV, ĐT.
Bị đơn: Nguyễn Văn M, sinh năm 1985.
2. Địa chỉ: 157A/2, ấp HĐ, xã TH, huyện LV, ĐT.
Chị T có mặt, anh M vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tại phiên tòa nguyên đơn Võ Thị Thanh T trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn M tìm hiểu với nhau trước khi chung sống với nhau vào năm 2005, vợ chồng có đăng ký kết hôn vào ngày 28/3/2008 tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hòa, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2007 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi với nhau, cuộc sống không hạnh phúc, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và vợ chồng đã ly thân từ năm 2010 đến nay. Chị T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt nên yêu cầu được ly hôn với anh M.
Về con chung và cấp dưỡng: Chị và anh M có 02 con chung: Nguyễn Phước D, sinh ngày 21/7/2006, đang sống với chị, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh M cấp dưỡng và cháu Nguyễn Phước T, sinh ngày 11/02/2008, đang sống với anh M, chị đồng ý anh M tiếp tục nuôi con, chị không cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn Nguyễn Văn M đã nhận các văn bản tố tụng của Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và Thông báo kết quả phiên họp cũng như để tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Võ Thị Thanh T yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn M, yêu cầu nuôi con, không yêu cầu giải quyết về tài sản và nợ. Chị T và anh M đang cư trú tại huyện Lai Vung và các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa lần thứ hai, bị đơn Nguyễn Văn M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định nhưng anh M vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với bị đơn, theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị T và anh M kết hôn vào năm 2005, đến ngày 28/3/2008 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hòa, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ, tuy nhiên quá trình chung sống giữa chị T và anh M phát sinh mâu thuẫn từ năm 2007 và đã ly thân từ năm 2010 đến nay, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, anh M không chăm lo phát triển kinh tế, vợ chồng thường xuyên cự cãi với nhau. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng chị T và anh M là trầm trọng, hôn nhân không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T là có căn cứ, theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
Về con chung và cấp dưỡng:
Hội đồng xét xử xét thấy, chị T đang nuôi cháu Nguyễn Phước D, sinh ngày 21/7/2006 từ khi vợ chồng ly thân đến nay và tại Tờ tường trình ngày 17/5/2021, cháu Duy có nguyện vọng được sống với chị T, không yêu cầu anh M cấp dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy nên giao cháu Duy cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, do chị T và cháu Duy không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với cháu Nguyễn Phước T, sinh ngày 11/02/2008, từ khi vợ chồng ly thân đến nay anh M nuôi dưỡng. Tại Tờ tường trình ngày 31/5/2022, cháu Tài có nguyện vọng được sống với anh M, không yêu cầu chị T cấp dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy nên giao cháu Tài cho anh M tiếp tục nuôi dưỡng, do anh M vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về cấp dưỡng, khi nào có yêu cầu sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với bị đơn Nguyễn Văn M kể từ khi thụ lý vụ án đến khi mở phiên tòa, Toà án đã tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng anh M vắng mặt và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ hay văn bản nào phản bác về việc yêu cầu của nguyên đơn. Điều đó thể hiện bị đơn đã từ bỏ quyền phản bác, từ bỏ nghĩa vụ chứng minh về việc yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân gia đình về ly hôn theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Võ Thị Thanh T.
1. Về hôn nhân: Chị Võ Thị Thanh T được ly hôn với anh Nguyễn Văn M.
2. Về con chung:
Chị Võ Thị Thanh T được quyền nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phước D, sinh ngày 21/7/2006.
Anh Nguyễn Văn M được quyền nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phước T, sinh ngày 11/02/2008.
Chị Võ Thị Thanh T và anh Nguyễn Văn M cùng các thành viên trong gia đình không được ngăn cản nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
4. Về án phí và tạm ứng án phí:
Chị Võ Thị Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân gia đình về ly hôn 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014744, ngày 9/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/7/2022). Đối với bị đơn Nguyễn Văn M không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐT; - VKSND huyện Lai Vung; - CCTHADS huyện Lai Vung; - UBND xã Tân Hòa; - Các đương sự; - Lưu HS, AV. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |