- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn K - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lƣơng Văn K phạm tội “Giết người”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2021/HS-ST Ngày 20 - 8 - 2021. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Thanh Sơn.
Thẩm phán: Ông Hồ Hữu Việt.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Khắc Viện, bà Nguyễn Thị T và bà Trịnh Thị Kim Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Chung - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công K vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 31/2021/TLST - HS ngày 06 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2021/QĐXXST - HS ngày 10 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:
Lƣơng Văn K (tên gọi khác: Không) sinh năm 1977 tại tỉnh Tuyên Quang;
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): 0/12; dân tộc: Cao Lan; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn Sửu (đã chết) và bà Vũ Thị D; có vợ Nguyễn Thị T và 01 con; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0216/QĐ-XPHC ngày 11/11/2003 của Công an huyện Yên Sơn về hành vi Trộm cắp tài sản.
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 168/QĐ-XPHC ngày 21/10/2009 của Công an huyện Yên Sơn về hành vi Đánh nhau.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/5/2021, hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang (có mặt tại phiên tòa).
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Thành Minh và bà Thạch Thị Cúc - Luật sư, Văn phòng Luật sư số 54 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Tuyên Quang.
Địa chỉ: Số 253, đường Trần Phú, phường Phan Thiết, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang (có mặt).
- Bị hại: Anh Nguyễn Bá T, sinh năm 1977 (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Bá T: Anh Nguyễn Bá Đ, sinh năm 1981 (có mặt);
Nơi cư trú: Tổ 2, phường Hưng Thành, TP. Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Bá T (đã chết): Ông Lê Quý Thành và bà Trần Thị Kim Oanh - Luật sư, Văn phòng Luật sư Minh Hà Ngân thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Tuyên Quang (có mặt).
Địa chỉ: Tổ 5, phường Tân Quang, TP. Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1933 (có đơn xin vắng mặt);
2. Chị Lương Thị S, sinh năm 1975 (có mặt);
3. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1979 (có mặt).
Đều trú tại: Thôn Đ, xã B, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
- Người làm chứng:
1. Anh Vương Văn T, sinh năm 1972 (có mặt);
2. Chị Nịnh Thị S, sinh năm 1985 (có mặt);
3. Anh Lương Văn T, sinh năm 1993 (có mặt);
4. Chị Phan Thị L, sinh năm 1972 (có mặt);
5. Anh Hoàng Xuân S, sinh năm 1983 (có mặt);
6. Anh Hoàng Quốc N, sinh năm 1985 (có mặt);
7. Bà Trần Thị T, sinh năm 1968 (có mặt);
8. Cháu Lương Thị Tuyết M, sinh năm 2006 (có mặt);
9. Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1973 (có mặt);
Đều trú tại: Thôn Đ, xã B, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 04/5/2021, Lương Văn K, cư trú tại Thôn Đ, xã B, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang sau khi ăn cơm uống rượu ở nhà, K đi đến nhà anh La Văn T (cùng thôn) cách nhà K khoảng 30 mét chơi thì được anh Tường tiếp tục mời uống rượu. Đến khoảng 21 giờ, sau khi uống rượu xong, K đi sang sân Nhà văn hóa thôn Đ, xã B, để đánh bóng chuyền hơi (nhà K đối diện Nhà văn hoá). Lúc này tại sân bóng chuyền hơi Nhà văn hoá có anh Nguyễn Bá T, Vương Văn T, chị Nịnh Thị S và nhiều người khác, đều trú tại thôn Đoàn Kết đang đánh bóng. K đi vào sân ôm vào lưng anh T kéo bảo anh T đi ra để cho K đánh thay nhưng anh T và mọi người bảo K đi ra để mọi người đánh nốt séc bóng, K đánh séc sau. Khi hết séc bóng, mọi người đang xếp đội để tiếp tục đánh thì K rút tờ tiền 100.000đ trong túi quần ra đưa cho chị Nịnh Thị S bảo đi mua nước về uống nhưng chị S từ chối không đi, K cất tiền vào túi rồi đi vào sân. Thấy vậy anh T đứng trong sân bóng nói: “Sinh ơi mày đi xuống nhà gọi cái T (vợ K) lên đây, xem nó có bao nhiêu tiền để mang nước lên bán cho nó, xem nó có bao nhiêu tiền để lấy về, không để nó cứ khoe tiền mọi người không đánh được bóng”. K chửi anh T: “Địt mẹ mày, mày không phải nói xỏ xiên tao”; anh T đi qua lưới, sang phần sân K đang đứng cầm tay K vừa lôi đi vừa nói: “Mày không phải chửi địt mẹ tao, mày thích địt mẹ tao thì tao dẫn mày về nhà gặp bà T” (bà T là mẹ anh T), thì mọi người can ngăn, anh T bỏ tay K ra và hai bên tiếp tục cãi nhau. K dùng tay trái đấm anh T nhưng không trúng, anh T đi về phía sân và đứng đối diện với K thì K tụt quần xuống đến đầu gối, tay cầm dương vật và chửi anh T “Mày là cái đầu buồi gì mà mày khoe, mày có tiền không bằng cái đầu buồi tao”. Mọi người can ngăn thì K đi ra cổng Nhà văn hoá nói: “Mày muốn chết thì mày đi ra đây”, anh T nói: “Mày thích thì mày lên đây”.
K đi về nhà lấy 01 con dao nhọn, lưỡi bằng kim loại sắc, kích thước dài 31cm, chuôi bằng gỗ dài 11cm, phần lưỡi dài 20cm, phần rộng nhất của lưỡi dao 5,8cm để ở bàn bán thịt lợn, đi lên sân bóng, vừa đi vừa nói “Riêng thằng này hôm nay tao cho mày chết”. Thấy vậy mọi người hô và cản K lại nhưng K vẫn đi đến chỗ anh T đứng, tay trái cầm dao (K thuận tay trái) đâm 01 nhát về phía bụng anh T, lúc này anh T đứng gần dùng tay đẩy vào tay trái của K nên đâm không trúng, anh T nói “Cứ kệ nó”. K dùng tay phải đẩy anh T ra, rồi tay trái cầm dao, đâm mạnh 01 nhát vào phần bụng phải của anh T gây thương tích nặng đồng thời rút dao ra. Anh T ôm bụng lùi lại vài bước rồi đi ra đến cổng Nhà văn hóa thì gục ngã xuống đất. K cầm con dao đã đâm anh T chạy về nhà vứt lên mái bếp nhà Lương Văn Q (em trai K). Còn anh T được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Hùng Vương, tỉnh Phú Thọ. Đến 05 giờ 30 phút ngày 05/5/2021 anh T được gia đình đưa về và chết tại nhà.
Tại Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 95/TT21 ngày 03/6/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang kết luận nguyên nhân chết của Nguyễn Bá T: Thành bụng có vết thương chạy song song với bờ sườn phải tạo thành đường thẳng có chiều dài 06cm, bờ gọn, thành vết thương sắc gọn có hướng vát từ trên xuống dưới, từ phải sang trái, từ ngoài vào trong và xuyên thấu vào khoang bụng, vết thương làm thủng mạc treo ruột non và động mạch mạc treo, thủng nhiều đoạn ruột non và đại tràng, đứt bán phần động mạch chủ bụng.
Nguyên nhân chết: Sốc mất máu do vết thương thấu bụng, rách động mạch chủ bụng, động mạch treo, thủng nhiều đoạn ruột non và đại tràng.
Cơ chế gây thương tích: Do bị đâm bằng vật sắc nhọn.
Tại Bản kết luận giám định số 448/GĐ-KTHS ngày 26/5/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang kết luận dấu vết màu nâu thu tại con dao nhọn dấu vết thu tại vị trí số 1 và số 2 tại hiện trường là máu người, thuộc nhóm máu A; máu của tử thi Nguyễn Bá T thuộc nhóm máu A.
Bản Cáo trạng số 37/CT-VKS-P2 ngày 04 tháng 8 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo Lương Văn K về tội “Giết người” theo điểm n, khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Phần tranh luận, Kiểm sát viên trình bày luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lương Văn K theo điểm n, khoản 1, Điều 123 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lương Văn K phạm tội “Giết người”.
Căn cứ: Điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lương Văn K từ 17 năm đến 18 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho gia đình bị hại bao gồm chi phí điều trị cứu chữa, mai táng phí, cấp dưỡng nuôi các con của bị hại đến khi đủ 18 tuổi, tiền nuôi mẹ già, tổn thất về tinh thần, tổng số tiền 300.000.000đ. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án vợ bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại được 240.000.000đ, nay anh yêu cầu bị cáo phải bồi thường tiếp số tiền 60.000.000đ để cấp dưỡng nuôi hai con của bị hại. Tại phiên tòa bị cáo nhất trí bồi thường tiếp cho gia đình bị hại 60.000.000đ. Xét sự thỏa thuận giữa bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại là tự nguyện, đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận trên. Ghi nhận bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại anh Nguyễn Bá T số tiền 240.000.000đ.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao nhọn kích thước dài 31cm, chuôi bằng gỗ dài 11cm, phần lưỡi dài 20cm, phần rộng nhất của lưỡi dao 5,8cm.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Người đại diện hợp pháp của bị hại, anh Nguyễn Bá Đ trình bày: Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm bồi thường dân sự, trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù giữa anh và gia đình bị cáo đã thỏa thuận bồi thường, vợ bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 240.000.000đ gồm các khoản chi phí cho việc cứu chữa, tiền mai táng phí, tiền bồi thường tổn thất về tinh thần, tiền cấp dưỡng nuôi các con của bị hại và tiền nuôi mẹ già. Tuy nhiên, tại phiên tòa anh nhận thấy sau khi bị hại chết, các con của bị hại còn quá nhỏ, vợ của bị hại không có công việc ổn định và còn phải nuôi mẹ già, nên anh yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm 60.000.000đ là tiền cấp dưỡng nuôi 02 con của bị hại (phương thức cấp dưỡng thực hiện một lần) để gia đình bị hại bớt khó khăn, dần ổn định cuộc sống.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị T trình bày: Trong giai đoạn điều tra, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường trực tiếp cho gia đình bị hại được số tiền 80.000.000đ, ngày 08/8/2021 chị Tâm đã thỏa thuận với gia đình bị hại và bồi thường tiếp số tiền 160.000.000đ, như vậy gia đình đã hỗ trợ bồi thường thay cho bị cáo được 240.000.000đ, số tiền gia đình đã khắc phục hậu quả cho bị hại thay cho bị cáo chị không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả, tại phiên tòa gia đình bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thêm 60.000.000đ, chị đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ: Nhất trí tội danh, điều luật và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Kiểm sát viên đã đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Xét, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và căn cứ điều kiện hoàn cảnh của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử đánh giá, cân nhắc xử phạt bị cáo mức án 16 năm tù. Về trách nhiệm dân sự đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo pháp luật.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trình bày: Nhất trí với tội danh, điều luật, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như Kiểm sát viên đã đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Về trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như đề nghị của người đại diện hợp pháp của bị hại; về trách nhiệm dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và người đại diện hợp pháp của người bị hại đối với số tiền phải bồi thường tiếp là 60.000.000đ.
Bị cáo nhất trí với luận cứ bào chữa của Luật sư, không bổ sung thêm ý kiến gì khác.
Kết thúc phần tranh luận, bị cáo Lương Văn K nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật; bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo Lương Văn K tiếp tục thành khẩn K nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời K của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời K của những người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới.
Căn cứ vào diễn biến tại phiên tòa và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 21 giờ ngày 04/5/2021, tại sân Nhà văn hoá Thôn Đ, xã B, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang, do mâu thuẫn cãi nhau trong việc đánh bóng chuyền hơi. Lương Văn K đã có hành vi dùng tay trái đấm anh Nguyễn Bá T nhưng không trúng. Sau đó K tay trái cầm 01 con dao nhọn (kích thước dài 31cm, chuôi bằng gỗ dài 11cm, phần lưỡi dài 20cm, phần rộng nhất của lưỡi dao 5,8cm) đâm 01 nhát về phía anh T nhưng được can ngăn nên không trúng; K tiếp tục dùng tay trái cầm dao đâm mạnh 01 nhát vào bụng anh T gây thương tích nặng, hậu quả anh T chết hồi 05 giờ 30 phút ngày 05/5/2021.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, bị cáo đã có hành vi dùng dao nhọn là hung khí nguy hiểm đâm vào vùng bụng là vùng xung yếu trên cơ thể nhằm tước đoạt tính mạng của anh Nguyễn Bá T, bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ, giết người vì nguyên cớ nhỏ nhặt; hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, gây lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2009 bị Công an huyện Yên Sơn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để cải tạo, sửa chữa mà còn tiếp tục có hành vi dùng dao đâm bị hại dẫn đến tử vong, điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật. Do vậy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Xét nguyên nhân, điều kiện phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Xuất phát từ mâu thuẫn trong việc đánh bóng chuyền hơi, giữa bị cáo và bị hại có lời lẽ khích bác, thách thức chửi nhau trong sân bóng chuyền. Bị hại anh Nguyễn Bá T đã cầm tay bị cáo lôi đi, sau đó bị cáo dùng tay trái đấm anh T nhưng không trúng, hai bên tiếp tục tranh cãi nhau, được mọi người can ngăn nhưng bị cáo không dừng lại mà về nhà lấy con dao nhọn đâm vào vùng bụng phải của anh T, dẫn đến anh T tử vong nguyên nhân sốc mất máu do vết thương thấu bụng, rách động mạch chủ bụng, động mạch treo, thủng nhiều đoạn ruột non và đại tràng. Hành vi của bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang truy tố về tội Giết người theo điểm n, khoản 1, Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn K báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; trong thời gian bị tạm giam đã tác động tới gia đình (vợ bị cáo) bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; bị hại cũng có một phần lỗi; bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ văn hóa không biết chữ; năm 2021 được UBND xã Đội Bình khen thưởng trong thực hiện Chỉ thị 05/CTTW giai đoạn 2016-2021; tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có mẹ đẻ tham gia Thanh niên xung phong. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần xem xét cho bị cáo.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét nhân thân, tính chất mức độ, điều kiện hoàn cảnh phạm tội và các tình tiết tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần xử bị cáo trong mức đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Về luận cứ bào chữa của Luật sư cho bị cáo và luận cứ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại, Hội đồng xét xử sẽ xem xét quyết định cho phù hợp.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Tại phiên tòa anh Nguyễn Bá Đ là người đại diện hợp pháp của bị hại trình bày: Trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù giữa anh và gia đình bị cáo đã thỏa thuận bồi thường, vợ bị cáo là chị Nguyễn Thị T đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 240.000.000đ gồm các khoản chi phí cho việc cứu chữa, tiền mai táng phí, tiền bồi thường tổn thất về tinh thần, tiền nuôi mẹ già, tiền cấp dưỡng nuôi các con của bị hại đến khi đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, anh nhận thấy sau khi bị hại chết, các con của bị hại còn quá nhỏ, vợ của bị hại không có công việc ổn định và còn phải nuôi mẹ già, nên anh yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm 60.000.000đ là tiền cấp dưỡng nuôi hai con của bị hại để gia đình bị hại bớt khó khăn dần ổn định cuộc sống, phương thức cấp dưỡng một lần.
Xét đề nghị của người đại diện hợp pháp của bị hại về yêu cầu bị cáo phải bồi thường tiếp 60.000.000đ để cấp dưỡng nuôi hai con của bị hại (cháu Nguyễn Lương Thảo M sinh ngày 18/6/2007 và cháu Nguyễn Lương Thảo N, sinh ngày 24/9/2014) cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi là có căn cứ, được bị cáo hoàn toàn nhất trí. Hội đồng xét xử thấy rằng sự thỏa thuận giữa bị cáo và người đại diện hợp pháp của người bị hại là hoàn toàn tự nguyện, nội dung thỏa thuận về bồi thường tiếp số tiền cấp dưỡng nuôi con của bị hại 60.000.000đ là không trái đạo đức xã hội, không trái pháp luật, do vậy cần công nhận sự thỏa thuận trên.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng là 01 con dao nhọn, xét thấy vật chứng trên không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo Lương Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí cấp dưỡng nuôi con và án phí dân sự có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (được kháng cáo phần có liên quan) có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lƣơng Văn K phạm tội “Giết người”.
Xử phạt: Bị cáo Lương Văn K 17 (mười bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 05/5/2021.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 591, 357, 468 Bộ luật Dân sự. Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại về trách nhiệm bồi thường dân sự. Buộc bị cáo phải bồi thường tiếp cho gia đình bị hại khoản tiền cấp dưỡng nuôi hai con của bị hại là cháu Nguyễn Lương Thảo M sinh ngày 18/6/2007 và cháu Nguyễn Lương Thảo N, sinh ngày 24/9/2014 cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi với tổng số tiền là 60.000.000đ, phương thức cấp dưỡng được thực hiện một lần. Giao cho chị Lương Thị S là vợ bị hại - là mẹ đẻ hai cháu Mi và Nhi được quyền nhận khoản tiền trên và có quyền yêu cầu thi hành án.
Khoản tiền bồi thường kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
Ghi nhận vợ bị cáo Lương Văn K đã bồi thường cho gia đình bị hại được số tiền là 240.000.000 đồng (Hai trăm bốn mươi triệu đồng) theo biên bản thỏa thuận ngày 08/8/2021.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại một lưỡi sắc có tổng chiều dài 31cm; chuôi gỗ dài 11cm; phần lưỡi dao dài 20cm, phần rộng nhất của bản lưỡi dao là 5,8cm, lưỡi dao nhọn bị cong ở phần đầu, phần cong dài 01cm, dao đã qua sử dụng; được đựng trong 01 (một) bì niêm phong, bên ngoài ghi “Con dao tang vật vụ Lương Văn K Giết người”, có chữ ký của Điều tra viên Lê Việt Bắc, người làm chứng là Kiểm sát viên Đinh Thị Chung, các hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang.
(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang lập ngày 09/8/2021).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lương Văn K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con và 3.000.000đ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Tổng cộng là 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng).
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ: Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (được kháng cáo phần có liên quan) có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa (được kháng cáo phần có liên quan) trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND cấp cao tại Hà Nội;
- VKSND cấp cao tại Hà Nội;
- VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- Cục THADS tỉnh Tuyên Quang;
- Công an tỉnh (CQCSĐT + Phòng hồ sơ);
(đã ký)
- Trại tạm giam Công tỉnh Tuyên Quang;
- Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
- Bị cáo; Người bào chữa;
- Người BVQVLIHP của bị hại;
- Người đại diện hợp pháp của bị hại;
Hồ Thanh Sơn
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Văn phòng TAND tỉnh;
- Lưu HS + Toà án. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hồ Thanh Sơn Trần Khắc Viện - Nguyễn Thị T
Hồ Hữu Việt
Trịnh Thị Kim Thanh THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Hữu Việt - Nguyễn Thị T
Hồ Thanh Sơn Trịnh Thị Kim Thanh - Trần Khắc Viện
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - Cục THADS tỉnh Tuyên Quang; - Công an tỉnh (CQCSĐT + Phòng hồ sơ); - Trại tạm giam Công tỉnh Tuyên Quang; - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang; - Bị cáo; Người bào chữa; - Bị hại; - Văn phòng TAND tỉnh; - Lưu HS + Toà án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Văn Chƣơng |