- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tạm giam bị cáo: Phạm Xuân H, sinh năm 1993; nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 149/53/5A đường Trịnh Đình Trọng, phường Phú Trung, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 149/53/5A đường Trịnh Đình Trọng, phường Phú Trung, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Ch…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2021/HS-ST Ngày: 26/5/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Lý Chung;
Ông Khưu Hán Quang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Diệp Xuân Hà - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 tham gia phiên tòa:
Ông Đỗ Doãn Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2021, tại Phòng xử A trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2021/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2021/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2021, đối với bị cáo:
Phạm Xuân H; tên gọi khác: không có; sinh ngày 12/02/1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: đường T, phường P, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: đường T, phường P, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Xuân H và bà Mai Thị T; có vợ và 02 con; tiền án: Ngày 18/3/2020, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 24/2020/HS-ST; tiền sự: Không có; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2021; (Có mặt).
- Bị hại: Chị Võ Thị Mỹ L, sinh năm 2001; địa chỉ: đường L, Phường 3, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trần L, sinh năm 1970; địa chỉ: chung cư L, Phường 7, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 06/12/2020, chị Võ Thị Mỹ L đi làm về có dựng trước nhà số L, Phường 3, Quận 11 chiếc xe môtô hiệu Honda Wave, biển số: 71B4-055.25. Sau đó, chị L khóa cổ xe và đi vào trong nhà. Đến khoảng 19 giờ 50 phút cùng ngày, chị L định lấy xe để đi công việc thì phát hiện xe bị mất trộm nên đến Công an Phường 3, Quận 11 trình báo sự việc. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 11 tiến hành rà soát Camera gắn tại nhà số 106I/46/5A Lạc Long Quân, Phường 3, Quận 11 phát hiện có 02 đối tượng đi trên xe môtô hiệu Honda Wave S, màu xanh đen, biển số: 59M1-493.55 thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe của chị L. Đối tượng ngồi sau xuống xe đi bộ tiếp cận xe môtô Honda Wave màu đen của chị L và lén lút bẻ khóa xe rồi nhanh chóng tẩu thoát. Tiến hành xác minh xe Honda Wave S, biển số: 59M1-493.55 do bà Huỳnh Thất Muối đứng tên chủ sở hữu. Bà Muối đã bán xe trên cho ông Trần Lâm. Ông Lâm cho biết vào chiều ngày 06/12/2020, ông Lâm có cho con rể là Phạm Xuân H mượn xe môtô biển số: 59M1-493.55 để sử dụng. Sau đó H về và trả lại xe cho ông Lâm rồi đi đâu không rõ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã thông báo truy tìm Phạm Xuân H. Đến ngày 24/12/2020, Công an phường Hiệp Tân, quận Tân Phú đã tìm được Phạm Xuân H và bàn giao H cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 làm rõ.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 tiến hành trưng cầu định giá tài sản xác định giá trị của 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Wave màu đen biển số 71B4-055.25. Tại bản kết luận định giá tài sản số 110/KL-HĐĐGTS ngày 16/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 11 kết luận: xe môtô nhãn hiệu Honda Wave màu đen biển số 71B4-055.25 đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 06/12/2020 có giá trị 12.250.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra Phạm Xuân H khai nhận: Vào ngày 06/12/2020, H được một người tên Minh (không rõ lai lịch) gọi điện thoại rủ đi trộm cắp tài sản để kiếm tiền tiêu xài và H đồng ý. Sau đó H mượn xe mô tô biển số 59M1-493.55 của cha vợ là ông Trần Lâm đến gặp Minh tại trước cổng Công viên Đầm Sen và đưa xe cho Minh chở đi qua nhiều tuyến đường tìm tài sản sơ hở để chiếm đoạt. Khi đến trước số 106I/46/5A Lạc Long Quân, Phường 3, Quận 11, Minh thấy xe môtô hiệu Wave biển số 71B4-055.25 đang dựng trước nhà không ai trông coi nên kêu H xuống bẻ khóa lấy xe. H lén lút dùng đoản bẻ khóa xe rồi chạy về hướng quận Tân Phú, còn Minh điều khiển xe mô tô biển số 59M1-493.55 chạy theo sau. Khi đến đường Trịnh Đình Trọng thuộc quận Tân Phú thì H đưa đoản bẻ khóa và đổi xe vừa lấy được cho Minh còn H điều khiển xe mô tô biển số 59M1-493.55 về trả lại cho ông Trần Lâm. Sau khi trả xe, H đi bộ ra cây xăng trên đường 3 tháng 2 để gặp Minh nhưng không gặp. H gọi điện thoại cho Minh nhưng không được. H không rõ thông tin lai lịch của Minh, chỉ liên lạc với Minh qua số điện thoại.
Đối tượng tên Minh là người cùng bị cáo H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được lai lịch, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Vật chứng và tài sản thu giữ trong vụ án:
- 01 xe môtô nhãn hiệu Wave biển số 71B4-055.25 do Võ Thị Mỹ L đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan điều tra không thu hồi được.
- 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Wave, biển số: 59M1-493.55, số máy: C52E-4510146, số khung: 21XCY-334301; 01 giấy đăng ký xe số 049500 mang tên Huỳnh Thất Muối.
- 01 áo sơ mi tay dài màu đen, 01 quần jean dài là tài sản cá nhân của Phạm Xuân H.
Bản Cáo trạng số 28/CT-VKSQ11 ngày 27 tháng 4 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 đã truy tố bị cáo Phạm Xuân H tội danh “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Xuân H có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Đề nghị xử lý vật chứng như sau: Tịch thu tiêu hủy: 01 áo sơ mi tay dài màu đen, 01 quần jean dài là tài sản cá nhân của của bị cáo H, do bị cáo từ chối nhận lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và các tang vật thu giữ được. Do đó, có đủ cơ sở để xác định:
Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 06/12/2020, tại địa chỉ số 106I/46/5A đường Lạc Long Quân, Phường 3, Quận 11, lợi dụng lúc không có người trông coi bị cáo Phạm Xuân H cùng với đối tượng tên Minh (chưa rõ lai lịch) đã có hành vi lén lút dùng dụng cụ phá ổ khóa xe để chiếm đoạt 01 xe môtô hiệu Honda Wave mang biển số 71B4-055.25 của chị Võ Thị Mỹ L. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 11 có giá trị là 12.250.000 đồng.
Bị cáo nhận thức rõ được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vì tính tư lợi, lười lao động bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo đã bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số: 59M1-493.55; 01 giấy đăng ký xe số 049500 mang tên Huỳnh Thất Muối. Qua xác minh chiếc xe do bà Huỳnh Thất Muối đứng tên chủ sở hữu. Bà Muối đã bán xe trên cho ông Trần Lâm. Vào ngày 06/12/2020, bị cáo H mượn xe của ông Lâm đi công việc. Ông Lâm không biết việc H sử dụng xe để đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe mô tô và giấy đăng ký xe trên cho ông Lâm là có căn cứ.
- 01 áo sơ mi tay dài màu đen, 01 quần jean dài là tài sản cá nhân của Phạm Xuân H bị cáo từ chối nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 xe môtô nhãn hiệu Wave biển số 71B4-055.25 do Võ Thị Mỹ L đứng tên chủ sở hữu, Cơ quan điều tra không thu hồi được. Gia đình bị cáo H đã bồi thường cho chị Võ Thị Mỹ L số tiền 21.500.000 đồng. Chị L không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 11, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 50; khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phạm Xuân H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/3/2021.
Căn cứ vào Điều 46 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 áo sơ mi dài tay màu đen, 01 quần jean dài thu giữ của bị cáo H (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 12/LNK-ĐCSHS ngày 11/01/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; các điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- TAND - VKSND TPHCM;
(Đã ký)
- Sở Tư pháp TPHCM;
- PC 27 - CA TPHCM;
- VKSND Q.11;
- Công an Q.11;
- Chi cục THADS Q.11;
- Những người tham gia tố tụng;
Nguyễn Thanh Phúc
- Lưu hồ sơ vụ án. TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 09 giờ 10 phút, ngày 26 tháng 5 năm 2021.
Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Khưu Hán Quang;
Ông Huỳnh Lý Chung.
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2021/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2021, đối với:
Bị cáo Phạm Xuân H; sinh năm: 1993, tại Thành phố Hồ Chí Minh;
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1. Về điều luật áp dụng:
Căn cứ vào Điều 50; khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.
2. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.
3. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Phạm Xuân H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/3/2021.
Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.
4. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ vào Điều 46 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 áo sơ mi dài tay màu đen, 01 quần jean dài thu giữ của bị cáo H (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 12/LNK-ĐCSHS ngày 11/01/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11).
5. Về án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; các điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.
6. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.
Nghị án kết thúc vào hồi 09 giờ 30 phút, ngày 26 tháng 5 năm 2021.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Thanh Phúc TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
–––––––––––––––
–––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––
Số: 27/2021/HSST-QĐTG
Quận 11, ngày 26 tháng 5 năm 2021
QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Khưu Hán Quang;
- Ông Huỳnh Lý Chung.
Căn cứ các điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Biên bản nghị án ngày 26 tháng 5 năm 2021 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;
Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1
Tạm giam bị cáo: Phạm Xuân H, sinh năm 1993; nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 149/53/5A đường Trịnh Đình Trọng, phường Phú Trung, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 149/53/5A đường Trịnh Đình Trọng, phường Phú Trung, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).
Thời hạn tạm giam là 45 ngày (bốn mươi lăm ngày), kể từ ngày tuyên án.
Điều 2
Nhà tạm giữ Công an Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
| Nơi nhận: - VKSND Q.11; - Nhà tạm giữ CAQ11; - - Bị cáo; - - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Phúc |