- Tranh chấp gì? án hình sự — "ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2021/HS-ST Ngày 18-3-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Đức Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hạnh
Bà Phạm Thị Kim Liên.
- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Hải Bình - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành ph ố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2021, tại Hội trường xét xử - Trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2021/HS-ST ngày 04 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2021/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:
Hoàng Văn S, sinh ngày 20 tháng 02 năm 1984 tại H. Nơi cư trú: Thôn D, xã Q, huyện T, thành phố H; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; con ông Hoàng Văn A (đã chết) và bà Đoàn Thị Q; bị cáo là con duy nhất; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 02/11/2020, đến ngày 05/11/2020 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 02/11/2020, S một mình đi xe máy biển kiểm soát: 16P8-0248 từ nhà đến khu vực ngõ 30 Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng với mục đích mua ma túy để sử dụng. S đi vào ngõ khoảng 80 mét thì gặp một phụ nữ (không rõ lai lịch, địa chỉ) và hỏi mua 02 gói Heroine với giá 200.000 đồng một gói. S đưa cho người phụ nữ 500.000 đồng, người phụ nữ đưa cho S 02 gói nilon màu đỏ bên trong là gói giấy màu trắng có chứa ma túy và trả lại 100.000 đồng. S cầm 02 gói ma tuý ở lòng bàn tay trái điều khiển xe đi ra đường, đi đến khu vực trước cửa nhà số 169 Trần Nguyên Hãn. Tại đây, tổ công tác Công an phường Trại Cau đang làm nhiệm vụ phát hiện S có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy nên tiến hành kiểm tra thì thấy S đã thả từ tay trái xuống đất ngay cạnh chân 02 gói nilon màu đỏ, bên trong mỗi gói là một gói giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy. Tổ công tác Công an phường Trại Cau đã đưa S cùng vật chứng về trụ sở công an phường lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, Tổ công tác Công an phường Trại Cau còn thu giữ của S số tiền 100.000 đồng; 01 điện thoại nhãn hiệu Mobiistar màu đỏ - đen và 01 xe máy nhãn hiệu Honda (vỏ xe loại Wave S màu đỏ - xám) biển kiểm soát: 16P8-0248.
Tại Kết luận giám định số 693/KLGĐ ngày 04/11/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng: Mẫu chất bột thu giữ của Hoàng Văn S gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,39 gam, là loại Heroine.
Tại cơ quan cảnh sát điều tra, Hoàng Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu ở trên.
Tại Cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 03/02/2021, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố bị can Hoàng Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Qua xem xét đánh giá chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra, cùng lời khai nhận của bị cáo, lời khai của người làm chứng. Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân giữ nguyên quan điểm truy tố bị can Hoàng Văn S theo tội danh cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Văn S với mức hình phạt từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù.
Xét điều kiện, hoàn cảnh gia đình của bị cáo, bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với phong bì có số niêm phong số 693/2020/PC09 đựng vỏ bao gói và số ma túy còn lại sau giám định, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 100.000 đồng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobiistar màu đỏ - đen là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 16P8-0248 (vỏ xe loại Wave S màu đỏ - xám), qua điều tra xác minh chiếc xe này nguyên bản mang nhãn hiệu HONDA, xác định chủ sở hữu hợp pháp là chị Vũ Thị P, sinh năm 1980 (địa chỉ: Thôn 3, xã Đô Lương, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình), chị P không biết việc S mượn chiếc xe trên để đi mua ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Lê Chân đã trả lại cho chị P.
Bị cáo Hoàng Văn S phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án, bị cáo trình bày nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm đã thực hiện và mong muốn được sự khoan hồng của pháp luật, được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện.
- Về tội danh:
Xét hành vi phạm tội của bị cáo Hoàng Văn S như đã nêu ở trên là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy; vi phạm Điều 3 Luật phòng, chống ma túy; lời khai về hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, cùng với vật chứng đã được thu giữ trong vụ án. Căn cứ vào các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Kết luận giám định số 693/KLGĐ-MT ngày 04/11/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Hoàng Văn S, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Lê Chân gửi giám định là ma túy có khối lượng là 0,39 gam là loại Heroine nằm trong danh mục quy định tại Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/8/2018 của Chính phủ.
Từ những phân tích trên và quan điểm truy tố của Viện Kiểm sát tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận bị cáo Hoàng Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Xét bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng, tại Cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn, hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; đây là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt được quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy Hội đồng xét xử xét cần cho bị cáo S được hưởng tình tiết giảm nhẹ như đã nêu là hoàn toàn có căn cứ, nên chấp nhận.
- Về hình phạt áp dụng:
Xét tội phạm mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn mới tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và buộc bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Điều Bộ luật Hình sự thì tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét hoàn cảnh của bị cáo không có việc làm, không có tài sản riêng, trên cơ sở quan điểm đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, nên Hội đồng xét xử cần miễn áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
Cơ quan công an thu giữ của bị cáo 02 gói nilon màu đỏ, bên trong mỗi gói là một gói giấy màu trắng được kết luận giám định là Heroine có khối lượng 0,39 gam xác định là vật Nhà nước cấm lưu hành và vật dùng chứa chất ma túy, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 100.000 đồng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobiistar màu đỏ - đen là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên cần tạm giao Chi cục thi hành án Dân sự quận Lê Chân quản lý số tiền 100.000 đồng để đảm bảo thi hành án đối với khoản tiền án phí bị cáo phải nộp.
Đối với người nữ giới bán ma túy cho Hoàng Văn S, tài liệu điều tra của Cơ quan CSĐT - Công an quận Lê Chân hiện không xác định được căn cước, lai lịch, nên không có căn cứ xử lý.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Hoàng Văn S 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 02/11/2020.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có số niêm phong 693/2020/PC09 trong chứa chất ma túy Heroine còn lại sau giám định và vỏ bao gói thu giữ của bị cáo.
- Trả lại cho bị cáo số tiền 100.000 (một trăm nghìn) đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobiistar màu đỏ - đen có số IMEI 352223026414898 là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng tạm giao Chi cục thi hành án Dân sự quận Lê Chân quản lý số tiền 100.000 đồng để đảm bảo thi hành án đối với khoản tiền án phí bị cáo phải nộp.
(Theo biên bản giao nhận tài sản, vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng ngày 04/02/2021 và Biên lai thu tiền số 0004735 ngày 04/02/2021).
3. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Hoàng Văn S phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án đựơc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi thành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành dân sự đựơc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND quận Lê Chân; - VKSND TP. Hải Phòng; - PV06, PC10 Công an TP. Hải Phòng; - CQCSĐT Công an quận Lê Chân; - Cơ quan THAHS quận Lê Chân; - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng; - Chi cục THADS quận Lê Chân; - UBND xã Quang Phục, huyện Tiên Lãng, tp. Hải Phòng; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Đức Hoàng |