vanban.org

Bản án 30/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định Tuyên án 29/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hồ Duy T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Xử phạt bị cáo Hồ Duy T 12 (mười hai) tháng Cải tạo không giam giữ, thời hạn Cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Giao bị cáo Hồ Duy T cho Uỷ ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bình Định gi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Duy Tường - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hồ Duy T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên trả lại
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY PHƢỚC
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2021/HS-ST
Ngày : 29 - 7 - 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƢỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quý Phúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Tuyết Mai;

2. Bà Trần Thị Minh Thâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Trúc, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sang - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2021/TLST- HS, ngày 01 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 22/2021/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:

Hồ Duy T, sinh năm 1994 tại huyện T, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Tấn C và bà Đặng Thị Thanh T; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Bà Trần Thị M, sinh năm 1975, nơi cư trú xóm 01, thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, có mặt.

- Người làm chứng:

1. Hồ Minh Q, sinh ngày 19/12/2004, nơi cư trú thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, có mặt.

Người đại diện hợp pháp của Hồ Minh Q: Có bà Trần Thị M là mẹ của Hồ Minh Q và là người bị hại trong vụ án.

2. Hồ Thị Mỹ N, sinh ngày 25/02/2003, nơi cư trú thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, có mặt.

3. Nguyễn Tiến B, sinh năm 1999, nơi cư trú thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, có mặt.

4. Trần Chí L, sinh năm 1968, nơi cư trú thôn L, xã P, thành phố Q, tỉnh Bình Định, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 22/02/2021 Hồ Duy T đang đi ăn nhậu tại thành phố Q, tỉnh Bình Định thì có truy cập mạng xã hội Facebook và biết được chị Hồ Thị Mỹ N trú cùng thôn của mình có đăng hình ảnh tổ chức sinh nhật của N trên mạng xã hội. Sau đó, T vào mạng bình luận, nhắn tin cho N với nội dung đe dọa sẽ đánh người yêu của N và đập phá cửa nhà của N. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 77F7-4646 đi từ thành phố Q đến nhà bà Trần Thị M (mẹ của N), trên đường đi, T ghé lại dọc đường lấy 01 cây cờ chuối, cán làm bằng cây trúc mang theo. Khi đi đến nhà bà M, T đứng bên ngoài cầm cây cờ chuối chọt vào cửa đi làm vỡ kính cửa rồi ném cây cờ chuối xuống khoảng đất trống bên cạnh nhà bà M. Tiếp đến T điều khiển xe mô tô đi về nhà của mình lấy 01 cây phảng rồi đi bộ quay lại nhà bà M, T cầm cây phảng chém nhiều cái vào cửa đi và cửa sổ của nhà bà M làm hư hỏng.

Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm vật chứng là cây cờ chuối làm bằng cây trúc mà T đã vứt ở khoảng đất trống gần nhà bà M nhưng không tìm thấy.

Theo bản kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐ ngày 24/03/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tuy Phước thì những tài sản bị hư hỏng, thiệt hại gồm:

- 01 cánh cửa đi làm bằng gỗ dổi và kính, kích thước 220 x 54 x 3,2 cm bị vỡ hư hỏng, giá trị thiệt hại là 500.000đ (năm trăm ngàn đồng).

- 01 cánh cửa đi làm bằng gỗ dổi và kính, kích thước 220 x 54 x 3,2 cm bị vỡ hư hỏng, giá trị thiệt hại là 1.400.000đ (một triệu bốn trăm ngàn đồng).

- 01 cánh cửa sổ làm bằng gỗ dổi và kính, kích thước 138 x 64 x 3,2 cm bị hư hỏng, giá trị thiệt hại 150.000đ (một trăm năm mươi ngàn đồng).

- 01 cánh của sổ làm bằng gỗ dổi và kính, kích thước 138 x 64 x 3,2 cm bị hư hỏng, giá trị thiệt hại 100.000đ (một trăm ngàn đồng)

- 01 tấm kính màu trắng, kích thước 65 x 65 x 0,7 cm bị vỡ một góc diện 30 x 11cm, giá trị thiệt hại 100.000đ (một trăm ngàn đồng)

Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là: 2.250.000đ (hai triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng). Bà Trần Thị M yêu cầu Hồ Duy T bồi thường cho bà số tiền 7.324.000đ (bảy triệu ba trăm hai mươi bốn ngàn đồng).

Tại bản Cáo trạng số 35/CT-VKS-TP ngày 24 tháng 6 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Hồ Duy T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ Q công tố luận tội và tranh luận:

Hồ Duy T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức để biết rằng đập phá tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng với bản tính côn đồ nên đã bất chấp thực hiện hành vi phạm tội, cụ thể vào khoảng 04 giờ ngày 22/02/2021 tại nhà bà Trần Thị M, bị cáo Hồ Duy T đã sử dụng cây cờ chuối làm bằng cán trúc và cây phảng đập phá cửa đi, cửa sổ nhà bà M gây hư hỏng thiệt hại với số tiền 2.250.000đ (hai triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng). Hành vi của Hồ Duy T là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân mà còn gây mất trật tự xã hội ở địa phương.

Do đó Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước nộp tiền bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho người bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại phiên tòa người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng là phạm tội có tính chất côn đồ quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 của Bộ luật hình sự.

{

Từ những đánh giá và phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 178, các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52, Điều 36 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại về tài sản theo yêu cầu của người bị hại với số tiền 7.324.000đ ( bảy triệu ba trăm hai mươi bốn ngàn đồng). Bị cáo đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước số tiền 2.250.000đ (hai triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng), nên bị cáo còn phải bồi thường tiếp số tiền 5.074.000đ (năm triệu không trăm bảy mươi bốn ngàn đồng), đây là sự tự nguyện bồi thường của bị cáo, nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 cái phảng dài 117 cm (phần cán bằng gỗ đường kính 03cm, dài 79cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 38cm).

- Đề nghị áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SHARK, màu nâu, số khung 2ADAD-007727, số máy VVBAD-007727, biển kiểm soát 77F7-4646 cho bị cáo Hồ Duy T.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.

Bị cáo và người bị hại không có ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tuy Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm Q, trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Hồ Duy T khai nhận: Vào lúc 01 giờ 30 phút, ngày 22/02/2021 bị cáo đang ăn nhậu tại thành phố Q thì thấy Hồ Thị Mỹ N (con gái bà Trần Thị M) đăng hình ảnh tổ chức sinh nhật, bị cáo vào bình luận sau đó giữa bị cáo và Hồ Thị Mỹ N có mâu thuẫn khi nhắn tin nói chuyện trên mạng Facebook nên bị cáo bực tức. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 77F7-4646 đi từ thành phố Q đến nhà bà Trần Thị M ở thôn V, xã P, huyện T, trên đường đi bị cáo ghé lại dọc đường lấy 01 cây cờ chuối mang theo, khi đến nhà bà M bị cáo sử dụng cây cờ chuối chọt vào cửa đi nhà bà M làm vỡ kính, sau đó bị cáo điều khiển xe đi về nhà của mình lấy 01 cây phảng, cất xe mô tô ở nhà rồi đi bộ quay lại nhà bà M dùng phảng chém nhiều cái vào cửa đi và cửa sổ nhà bà M làm hư hỏng. Lời khai nhận tội của bị cáo là hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai nhân chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đã thu thập. Do đó Cáo trạng số 35/CT-VKS-TP ngày 24 tháng 6 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định và lời luận tội của kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác thể hiện sự xem thường pháp luật và theo kết luận định giá tổng tài sản bị cáo làm hư hỏng tại nhà bà Trần Thị M có giá trị thành tiền là 2.250.000đ (hai triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng), hành vi của bị cáo đã thỏa mãn dấu hiệu của tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử thấy rằng trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi gây thiệt hại bị cáo đã tự nguyện đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước nộp tiền bồi thường, khắc phục hậu quả cho người bị hại theo kết luận định giá là 2.250.000đ (hai triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) và tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường thêm cho người bị hại số tiền 5.074.000đ (năm triệu không trăm bảy mươi bốn ngàn đồng) theo yêu cầu của người bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, do đó cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo có tinh thần bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả tốt tuổi đời còn rất trẻ, để tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, làm lại cuộc đời nên xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà xử phạt bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát cũng đủ tác dụng răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm và nhận định này của Hội đồng xét xử là phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Xét về bồi thường thiệt hại: Tại phiên tòa bị hại Trần Thị M yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về tài sản với số tiền 7.324.000đ (bảy triệu ba trăm hai mươi bốn ngàn đồng), bị cáo Hồ Duy T đồng ý bồi thường theo yêu cầu của người bị hại, đây là sự tự nguyện bồi thường của bị cáo nên được Hội đồng xét xử ghi nhận. Ngày 19/7/2021 bị cáo đã đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định nộp số tiền 2.250.000đ (hai triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng), nên bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Trần Thị M số tiền 5.074.000đ (năm triệu không trăm bảy mươi bốn ngàn đồng).

Về xử lý vật chứng:

- 01 cái phảng dài 117 cm (phần cán bằng gỗ đường kính 03cm, dài 79cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 38cm) là công cụ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên tuyên tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SHARK, màu nâu, số khung 2ADAD-007727, số máy VVBAD-007727, biển kiểm soát 77F7-4646 là của bị cáo Hồ Duy T mua cũ lại năm 2018 và đây là phương tiện đi lại duy nhất của gia đình bị cáo, xét thấy việc trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu cũng không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án nên tuyên trả lại chiếc xe cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 178 của Bộ luật hình sự còn qui định hình phạt bằng tiền, nhưng xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

ơ

1. Tuyên bố: Bị cáo Hồ Duy T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52, Điều 36 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Hồ Duy T 12 (mười hai) tháng Cải tạo không giam giữ, thời hạn Cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án.

Giao bị cáo Hồ Duy T cho Uỷ ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Người bị kết án Cải tạo không giam giữ phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.

Miễn khấu trừ thu nhập của bị cáo.

2. Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự và Điều 589 của Bộ luật dân sự:

Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường thiệt hại về tài sản của bị cáo đối với người bị hại Trần Thị M với số tiền 7.324.000đ (bảy triệu ba trăm hai mươi bốn ngàn đồng). Bị cáo đã nộp số tiền 2.250.000đ (hai triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, nên bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Trần Thị M số tiền 5.074.000đ (năm triệu không trăm bảy mươi bốn ngàn đồng).

Tiếp tục tạm giữ số tiền 2.250.000đ (hai triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) mà bị cáo đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001915, ngày 19 tháng 7 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định để đảm bảo cho việc thi hành án.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền gốc còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự.

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy 01 cái phảng dài 117 cm (phần cán bằng gỗ đường kính 03cm, dài 79cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 38cm).

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên trả lại bị cáo Hồ Duy T 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SHARK, màu nâu, số khung 2ADAD-007727, số máy VVBAD-007727, biển kiểm soát 77F7-4646.

Hiện vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25 tháng 6 năm 2021 giữa Công an huyện Tuy Phước và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí tòa án:

Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm để sung vào ngân sách nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo Bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/7/2021).

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có Q thỏa thuận thi hành án, Q yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ