- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn H(Ch) phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo: Phạm Văn H (tên gọi khác: Ch) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LỮ TỈNH HƢNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2021/HS - ST Ngày 06/8/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LỮ, TỈNH HƢNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đăng Khuê
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lƣơng Văn kế
Bà Vũ Thị Toan
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thơm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Đào Đức Độ - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2021/TLST - HS ngày 24 tháng 6 năm 2021. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2021/QĐXXST - HS ngày 26 tháng 7 năm 2021.
Đối với bị cáo: PHẠM VĂN H - Sinh năm 1990.
Tên gọi khác: Ch
Nơi cư trú: Thôn Thống Nh, xã Thủ S, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Giớ i tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Phạm Văn L – sinh năm 1958; Con bà: Nguyễn Thị Th, sinh năm 1963; Vợ: Phạm Thị Ph - sinh năm: 1997 và 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2014.
Tiền án:
+ Ngày 20/11/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ xử phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
+ Ngày 29/7/2016 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hưng Yên xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/4/2021 đến ngày 29/4/2021, chuyển tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Hưng Yên. (có mặt).
+ Bị hại: Ông Trần Văn S, sinh năm 1960; Trú tại thôn Tân Kh, xã Thiện Ph, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. (vắng mặt).
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1963 (có mặt).
Trú tại thôn Thống Nh, xã Thủ S, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.
- Anh Vũ Văn T, sinh năm 1977 (vắng mặt).
Trú tại thôn Ba H, xã Thủ S, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.
+ Người làm chứng:
- Anh Đào Văn Đ, sinh năm 1976 (vắng mặt).
Trú tại thôn Ba H, xã Thủ S, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 22/11/2020, Phạm Văn H, (tên gọi khác là Ch) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 89B1 - 973.92 (khi đi H tháo BKS ra để vào trong cốp xe) đi chơi về đến đầu làng của thôn Thống Nh thì gặp Vũ Văn T, SN 1977 ở cùng thôn đang đi bộ trên đường. Hoàng rủ T đi chơi, T đồng ý. Tuấn ngồi sau xe mô tô do H chở đi vào trong thôn Tân Kh, xã Thiện Phiến, huyện Tiên Lữ. Khi T và H đi đến trước cổng nhà ông Nguyễn Văn S thì Hoàng thấy nhà không có ai và bên trong chuồng có nhiều gà nên Hoàng nảy sinh ý định trộm cắp gà. H bảo T vào trong bắt gà còn H ở ngoài cảnh giới thì T đồng ý. Khi T đang trèo qua tường bao sát với trụ cổng bên trái tính từ ngoài vào thì bị trượt chân ngã xuống mương nước nên T không vào nữa mà đi ra xe rồi H chở Tuấn đi chỗ khác, khi đi được một đoạn H điều khiển xe mô tô quay trở lại vị trí cũ để trộm cắp tài sản. Lần này T trèo qua tường vào khu chuồng gà, H mở cốp xe mô tô lấy 01 bao tải dứa ném qua tường để T bắt gà cho vào bao. T ở trong bắt gà cho vào đầy bao sau đó đưa cho H qua bức tường và trèo ra ngoài. H để bao tải gà vào khung xe mô tô rồi chở T đi đến khu vực phố Ba H, xã Thủ Sỹ, huyện Tiên Lữ gặp anh Đào Văn Đ (tên gọi khác là T) để bán số gà trộm cắp được. Khi gặp anh Đ, H bảo với Đ “bà già có con gà muốn bán, gửi tạm đây tý quay lại tính tiếp” thì Đ đồng ý. Sau đó H hỏi T còn gà trong chuồng không thì T bảo còn và bảo quay lại bắt gà tiếp. H điều khiển xe mô tô chở T quay lại nhà ông S để bắt gà. Do không có bao nên khi đi qua bãi rác ven đường, Tuấn và Hoàng đã lấy bao đựng rác ở đó để mang đi tiếp tục bắt trộm gà. Đi đến nơi, T lại trèo qua tường, H vứt bao vào trong để T bắt gà cho vào bao. Khi bắt được đầy bao gà, T đưa gà qua tường cho H sau đó trèo ra ngoài. H để gà vào khung xe mô tô rồi chở T đi về nơi ở của anh Đ ở thôn Ba H, xã Thủ Sỹ, huyện Tiên Lữ để tiếp tục bán số gà trộm cắp được. Khi đi đến cổng nhà Điệp, Hoàng và Tuấn đợi khoảng 10 phút thì anh Đ về đến nhà và mang theo bao gà lần trước. Anh Đ, H và T mang 02 bao gà thả vào trong chuồng gà của nhà Đ và đếm được 12 con. T ra ao rửa chân tay, H và anh Đ đi vào trong phòng khách, tại đây Đ trả cho H số tiền mua gà là 200.000 đồng. Sau đó H điều khiển xe mô tô chở T đi về. Trên đường đi, H đưa cho Tuấn số tiền 200.000 đồng để T đi lấy chiếc điện thoại của T cầm cố mấy ngày trước, sau đó 02 người vào khu vực nghĩa trang xã Thủ S để sử dụng ma túy (theo như lời khai của Hoàng thì Đ đưa cho H 01 tép Heroine). Sau khi sử dụng xong H chở T về nhà sau đó H lắp BKS 89B1 - 973.92 vào xe. Ngày 22/11/2020, anh Đ mang 12 con gà đến gần cổng chợ Ba H, thôn Ba H, xã Thủ Sỹ, huyện Tiên Lữ bán cho một người phụ nữ (chưa rõ tên, tuổi địa chỉ), cân 12 con gà được 15kg, người phụ nữ này trả anh Đ số tiền 675.000 đồng. Số tiền trên anh Đ đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 75/KL - HĐĐGTS 28/02/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tiên Lữ kết luận: Trị giá của 12 con gà, giống gà tầu, tổng khối lượng 15 kg tại thời điểm định giá là 1.125.000 đồng.
Cơ quan CSĐT - Công an huyện Tiên Lữ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đào Văn Đ. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại bản cáo trạng số 09/CT - VKSTL ngày 29/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Phạm Văn H (Ch) về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo Phạm Văn H (Ch) nhận tội, khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên đa truy tố, đồng thời bị cáo trình bàỹ hoàn cảnh gia đình khó khăn. Bị cáo đồng ý sẽ có trách nhiệm bồi thường toàn bộ số tiền là 1.125.000 đồng trị giá 12 con gà mà bị cáo và T trộm cắp cho ông Sơn, không yêu cầu T bồi thường cùng với mình.
Bị hại là ông Trần Văn S vắng mặt tại phiên tòa, quá trình điều tra quan điểm của ông Sơn về hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Văn H (Ch), ông đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự ông S yêu cầu bị cáo H(Ch) và T phải bồi thường cho ông số tiền là 1.125.000 đồng trị giá 12 con gà đã bị trộm cắp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ vào nhân thân, tiền án, trị giá tài sản bị cáo phạm tội, đề nghị của bị hại: đề nghị tuyên bố bị cáo Phạm Văn H (Ch) phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Văn H (Ch) mức án từ 01(một) năm đến 01(một) năm 03(ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ 26/4/2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 48 BLHS, ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Phạm Văn H (Ch) bồi thường toàn bộ số tiền là 1.125.000 đồng trị giá 12 con gà đã bị trộm cắp cho ông Trần Văn S. Không yêu cầu T liên đới bồi thường cùng bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Đối với xe mô tô BKS 89B1 - 973.92, màu xanh lam số khung RLHJA3910LY250956, số máy: JA39E 1588849. Là xe máy của bà Nguyễn Thị Th, bà cho H mượn, bà Thơm không biết việc H sử dụng xe mô tô của bà để đi trộm cắp tài sản. Do vậy trả lại cho bà Nguyễn Thị Th. Các vấn đề liên quan khác đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên; Điều tra viên; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Văn H (Ch) tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trước Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, như: Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 30/11/2020 (bút lục 61; 62); Bản kết luận định giá tài sản số: 75/KL - HDĐGTS ngày 28/02/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tiên Lữ (bút lục 48); Biên bản khám xét hồi 09 giờ ngày 21 tháng 12 năm 2020 (bút lục 57); phù hợp với lời khai của bị hại ông Trần Văn S (bút lục 69); bà Nguyễn Thị Th (bút lục 42); người làm chứng Anh Đào Văn Đ. Đủ căn cứ kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 22/11/2020, tại thôn Tân Kh, xã Thiện Phiến, huyện Tiên Lữ, lợi dụng việc gia đình ông S không có ai ở nhà, Phạm Văn Ho và Vũ Văn T có hành vi lén lút hai lần vào trộm cắp của ông Trần Văn S 12 con gà trị giá 1.125.000 đồng. Mặc dù Phạm Văn H trộm cắp tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng trước đó H đã phạm tội “Cướp giật tài sản” chưa được xóa án tích. Bị cáo Phạm Văn H (Ch) là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi nêu trên của bi ̣ cáo đã đ ủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy đi ̣nh ta ̣i điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên giữ nguyên Quyết định truy tố đối với bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
.Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Hiện nay tình trạng trộm cắp các con vật nuôi trong gia đình như chó, mèo, gà diễn ra ở nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh nói chung và địa bàn huyện Tiên Lữ nói riêng gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo tuổi đời còn trẻ nhưng lại lười lao động, bản thân lại mắc nghiện ma túy đây là một trong những nguyên dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo. Bị cáo dùng xe máy chở Tuấn cùng đi tìm nhà nào sơ hở hoặc không có người ở nhà thì vào trộm cắp. Khi thực hiện hành vi bị cáo đứng ngoài cảnh giới cho Tuấn thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Không những xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân là khách thể được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự tại địa phương, gây tâm lý lo lắng, hoang mang cho người dân. Vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 02 tiền án, tiền án thứ nhất ngày 20/11/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ xử phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” và tiền án thứ hai ngày 29/7/2016 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hưng Yên xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Nay bị cáo có hành vi lén lút cùng với T hai lần vào nhà của ông Trần Văn S bắt trộm 12 con gà trị giá 1.125.000 đồng. Mặc dù hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo có giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng năm 2016 bị cáo H đã phạm tội “Cướp giật tài sản” bản án này chưa được xóa án tích. Do vậy, hành vi nêu trên của Phạm Văn H (Ch) đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Đối với tiền án ngày 20/11/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ xử phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính tuy nhiên đến nay chưa chấp hành phần bồi thường trách nhiệm dân sự nên chưa được xóa án tích do đó bị cáo phải chịu thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo bỏ trốn khỏi địa phương và ngày 21/4/2021 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Lữ ra quyết định truy nã đối với bị cáo. Việc bị cáo H (Ch) bỏ trốn đã gây khó khăn cho các cơ quan tố tụng, mặt khác bị cáo chưa bồi thường cho gia đình bị hại, bị hại đề nghị giải quyết hành vi trộm cắp của bị cáo theo quy định của pháp luật. Do đó cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, thiệt hại gây ra cho gia đình ông Sơn là không lớn nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
. Về hình phạt: Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, trên cơ sở đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên Tòa. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo Phạm Văn H (Ch) ra khỏi đời sống xã hội mô ̣t thờ i gian đ ể cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng chống tội phạm chung.
. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo H (Ch) là người nghiện ma túy, không có việc làm ổn định, gia đình bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo cùng với Tuấn hai lần có hành vi lén lút bắt trộm 12 con gà gây thiệt hai cho gia đình ông S số tiền 1.125.000 đồng, đến nay bị cáo H và T chưa bồi thường cho gia đình ông S. Ông Trần Văn S đề nghị bị cáo và T có trách nhiệm bồi thường số tiền trên cho gia đình ông là có căn cứ chấp nhận. Tại phiên tòa anh T vắng mặt, bị cáo H (Ch) tự nguyện nhận bồi thường toàn bộ số tiền 1.125.000 đồng cho ông S, bị cáo cũng không yêu cầu T cùng liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho ông S cùng với mình. Số tiền 200.000 đồng là tiền do bán gà mà có bị cáo cho T, bị cáo không có ý kiến gì, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của bị cáo. Căn cứ khoản 1 Điều 48 bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo phải bồi thường cho gia đình người bị hại (đại diện gia đình là anh Trần Văn S, địa chỉ Thôn Tân Kh, xã Thiện Phiến, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên) số tiền 1.125.000 đồng.
. Đối với việc anh Đào Văn Đ mua 12 con gà của Phạm Văn H và Vũ Văn T và việc H khai bán gà cho anh Đ lấy số tiền 200.000 đồng và 01 gói Heroine để sử dụng. Quá trình điều tra xác định anh Đ không biết số gà này do H và T trộm cắp được mà có. Do khi giao dịch mua bán gà chỉ có anh Đ và H tại phòng khách, khám xét nhà Đ không thu giữ được gì nên chưa đủ căn cứ chứng minh có hay không việc anh Đ đưa ma túy cho H. Vì vậy, chưa đủ căn cứ để xử lý đối với anh Đào Văn Đ về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
. Đối với việc bà Nguyễn Thị Th cho Hoàng mượn xe mô tô BKS 89B1
- 973.92. Quá trình điều tra, Phạm Văn H khai nhận mượn xe mô tô BKS 89B1 - 973.92 của mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị T để đi chơi. Bà Th không biết việc H sử dụng xe mô tô của bà để đi trộm cắp tài sản. Do vậy, không có căn cứ xác định bà Th đồng phạm với H về hành vi trộm cắp tài sản.
. Đối với việc Vũ Văn T cùng với bị cáo Hoàng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra xác định tài sản trộm cắp định giá số tiền 1.125.000 đồng, T chưa có tiền án, tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản nên chưa đủ căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự đối với Vũ Văn T. Số tiền 200.000 đồng T được hưởng lợi từ việc bán gà, bị cáo H tự nguyện cho T. Ngày 12/4/2021, Công an huyện Tiên Lữ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Vũ Văn T về hành vi Trộm cắp tài sản, mức phạt 1.500.000 đồng nên không xem xét giải quyết.
. Đối với hành vi của H và T sử dụng trái phép chất ma túy ngày 22/11/2020 tại khu vực nghĩa trang xã Thủ S, huyện Tiên Lữ đã vi phạm khoản 1, Điều 21, Nghị định 167/NĐ - CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ. Ngày 24/5/2021, Công an huyện Tiên Lữ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H và T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, mức phạt mỗi người 750.000 đồng.
. Quá trình xác minh nhân thân của bị cáo Phạm Văn H xác định: H có vợ là Phạm Thị Ph, sinh năm 1997, con lớn là Phạm Văn L, sinh ngày 04/8/2012 đều ở tại thôn Thống Nh, xã Thủ Sỹ, huyện Tiên Lữ. Chị Ph sinh cháu L khi chưa đủ 16 tuổi, có dấu hiệu của tội Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Quá trình điều tra bị cáo H khai nhận khi bị cáo kết hôn với chị Ph năm 2016 thì chị Ph đã có con riêng. Việc chị Ph quan hệ tình dục với ai trước đó sinh ra cháu L bị cáo không biết. Hiện nay chị Ph và cháu L vắng mặt tại địa phương, gia đình không biết đi đâu, làm gì. Cơ quan điều tra đã tách nội dung này để tiếp tục điều tra, xác minh nên không có căn cứ giải quyết trong vụ án này.
. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Đối với xe mô tô BKS 89B1 - 973.92, màu xanh lam số khung RLHJA3910LY250956, số máy: JA39E 1588849. Là xe máy của bà Nguyễn Thị Th, bà Th cho H mượn. Bà Th không biết việc Hoàng sử dụng xe mô tô của bà để đi trộm cắp tài sản. Do vậy trả lại cho bà Nguyễn Thị Th.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo: Phạm Văn H (tên gọi khác: Ch) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình ph ạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn H (Ch): 01(một) năm 03(ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 26/4/2021.
- Hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Phạm Văn H (Ch) phải bồi thường cho gia đình người bị hại (đại diện gia đình là anh Trần Văn S, địa chỉ Thôn Tân Kh, xã Thiện Phiến, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên) số tiền 1.125.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án hợp lệ, nếu người phải thi hành án không thi thành thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu lãi của số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luât dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
4. Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Trả lại cho bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1963; địa chỉ: Thôn Thống Nh, xã Thủ S, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên xe mô tô BKS 89B1 - 973.92, màu xanh lam số khung RLHJA3910LY250956, số máy: JA39E 1588849.
(Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo quyết định chuyển vật chứng số 19/QĐ – VKS ngày 24 tháng 6 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên).
5. Về án phí: Bị cáo Phạm Văn H (Ch) phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bà Th; vắng mặt bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Báo cho bị cáo, bà Th được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Những người vắng mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Phòng NV&THA TAND tỉnh; - VKSND tỉnh HY & huyện Tiên Lữ; - Chi cục THADS huyện Tiên Lữ; - CQCSĐT Công an huyện Tiên Lữ; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Đăng Khuê |