vanban.org

Bản án 30/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 04/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tô Xuân H2 phạm tội trộm cắp tài sản.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tô Xuân H2 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (Ngày 30/01/2021). Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật hình sự; các Điều 288; Điều 289; khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; khoản 1 Điều 586; Điều 587 và Điều 589 của Bộ lu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tô Xuân H2 trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tô Xuân H2 phạm tội trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN LẠC
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2021/HS-ST
Ngày 04 – 11 – 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN LẠC, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Doanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Lứ.

Ông Bùi Thanh Xuân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Đinh Mạnh Cơ - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2021/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Tô Xuân H2 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 17/02/1988 tại G – Ninh Bình. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: nghề tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô Viết H và bà Phạm Thị N; có vợ là Nguyễn Thị T; bị cáo chưa có con; Tiền án: Không.

Tiền sự: Tại Quyết định số 13/2017/QĐ-TA ngày 31/10/2017, Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng.

Nhân thân: + Tại bản án số 26/2005/HSST ngày 27/10/2005, Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội cưỡng đoạt tài sản.

+ Tại bản án số 04/2010/HSST ngày 08/01/2010, Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội trộm cắp tài sản.

+ Tại bản án số 09/2012/HSST, ngày 17/01/2012 bị Tòa án nhân dân quận 2, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Cộng với 09 tháng tù tại bản án số 04/2010/HSST ngày 08/01/2010 của Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 02 năm 03 tháng tù.

+ Tại bản án số 21/2012/HSST ngày 23/7/2012, Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xử phạt 05 năm tù. Tổng hợp hình phạt này với phần hình phạt 02 năm 03 tháng tù về tội trộm cắp tài sản tại bản án số 09/2012/HSST, ngày 17/01/2012 của Tòa án nhân dân quận 2, thành phố Hồ Chí Minh thành hình phạt chung của hai bản án buộc bị cáo phải chấp hành là 07 năm 03 tháng tù (Bị cáo chấp hành xong ngày 30/8/2016).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/01/2021 đến ngày 05/02/2021 được chuyển tạm giam đến nay, được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

+ Ông Nguyễn Đức Tr, sinh năm 1972. Nơi cư trú: Xóm T, xã P, huyện T, tỉnh Hoà Bình; có mặt.

+ Bà Trịnh Ngọc Tr, sinh năm 1977. Nơi cư trú: Xóm T, xã P, huyện T, tỉnh Hoà Bình; có mặt.

* Người tham gia tố tụng khác:

- Người làm chứng:

+ Cháu Nguyễn Thùy D, sinh ngày 01/12/2008. Nơi cư trú: Xóm T, xã P, huyện T, tỉnh Hòa Bình (Có đơn xin vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của người làm chứng: Ông Nguyễn Đức Tr, sinh năm 1972; nơi cư trú: Xóm T, xã P, huyện Tc, tỉnh Hòa Bình (Là bố đẻ của cháu Nguyễn Thùy D); có mặt.

+ Anh Phan Xuân Tr, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Xóm T, xã P, huyện T, tỉnh Hòa Bình; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 24/01/2021, Đinh Văn H điện thoại rủ Tô Xuân H ra ngoài đường để đón đi Sài Gòn. Hạnh điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu xanh (H2 không nhớ biển kiểm soát) đến đón H2, trên xe có hai chiếc xà cầy bằng kim loại, một đầu nhọn, một đầu dẹp để sát ống xả của xe mô tô. Trên đường đi, H1 nói đi lên Hòa Bình chỗ ngày trước H1 làm để trộm cắp tài sản vì nhà đấy nhiều tiền, H2 đồng ý. Quá trình đi lên Hòa Bình, H1 và H2 thay nhau điều khiển xe. Khoảng 19 giờ thì đến địa phận huyện Tân Lạc, Hạnh điều khiển xe theo Quốc lộ 6 hướng Hòa Bình – Sơn La được khoảng 8km tới xóm Tân Phú, xã Phong Phú thì đi lại nhiều lần để xác định ngôi nhà mà H1 biết có nhiều tài sản. Sau khi xác định được là ngôi ngà ba tầng thuộc xóm Tân Phú, xã Phong Phú nhưng trong nhà có nhiều người nên không thực hiện được việc trộm cắp tải sản như đã định. H1 và H2 quay xe lại thị trấn Mãn Đức để ăn cơm, trên đường đi thấy có nhà ông Nguyễn Đức Tr và bà Trịnh Ngọc Tr ở bên phải đường hướng Sơn La – Hòa Bình khóa cửa ngoài nên H1 quay xe lại đi đến trước cửa nhà. H1 cầm hai chiếc xà cầy đi vào phá khóa vào nhà còn H2 quay xe lại, mở khóa điện của xe đứng cảnh giới. Khoảng 4 phút sau, H1 quay ra ngồi lên xe nói “Chạy nhanh đi trong nhà có người”, H2 điều khiển xe đi về hướng thị trấn Mãn Đức sau đó đi theo quốc lộ 12B hướng Tân Lạc – Nho Quan. Đi được 2 km thì H1 nói: “Lúc nãy trong nhà có người, có đứa con gái ở trên gác, nó nói: Bố về à, ai đấy”. Đi tiếp được khoảng 7km thì H1 đổi lái cho H2, H1 điều khiển xe đi được khoảng 20km thì rẽ phải vào đường đất khoảng 30m thì dừng lại. H2 dùng điện thoại Iphone 6 Plus bật đèn flash soi cùng H1 kiểm tra những tài sản trộm cắp được, gồm: Số tiền 50.000.000 đồng bao gồm các tờ tiền polyme mệnh giá 500.000 đồng; 01 nhẫn vàng mặt vuông 3 chỉ; 01 nhẫn vàng dạng tròn 2 chỉ; 01 dây chuyền vàng 5 chỉ và 2 cây vàng miếng. Kiểm tra xong, H2 cầm vứt lại túi đựng vàng màu đỏ và hai chiếc xà cầy tại ruộng ngô. Sau đó, H1 điều khiển xe về đến Ninh Bình khoảng 21 giờ cùng ngày rồi tiếp tục điều khiển xe đến bến xe Nước Ngầm – Hà Nội gửi xe mô tô lên xe khách vào thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 25/01/2021, H2 và H1 ra sân bay Nội Bài đi máy bay vào thành phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng 09 giờ ngày 26/01/2021, H2 ra sân bay Tân Sơn Nhất đi máy bay về Ninh Bình. Trước khi về, H1 đưa cho H2 một nhẫn vàng dạng tròn 2 chỉ và H2 đã bán chiếc nhẫn cho một cửa hàng kinh doanh vàng trên đường ra sân bay không rõ tên, địa chỉ được số tiền 10.500.000 đồng. Đến khoảng 12 giờ ngày 26/01/2021, Hải về đến Ninh Bình. Ngày 30/01/2021, H2 đến Công an huyện Tân Lạc đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 05/KL – HĐĐG ngày 29/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tân Lạc kết luận: 01 nhẫn vàng loại 3 chỉ, hình tròn, mặt trên có hình vuông có giá 16.170.000 đồng; 01 dây chuyền vàng loại 5 chỉ, các mắt nối hình tròn, bên trong mắt nối rỗng, ở giữa dây chuyền có mặt hình trái tim có giá 26.950.000 đồng; 1 nhẫn vàng loại 2 chỉ, hình tròn có giá 10.780.000 đồng; vàng dạng miếng loại 1 cây, có khắc chữ 9999 Nam Chính có giá 54.900.000 đồng; vàng dạng miếng loại 01 cây, có khắc chữ 9999 Hương Tuyết có giá 54.900.000 đồng. Tổng cộng: 163.700.000 đồng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 19/KL – HĐĐG ngày 03/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tân Lạc kết luận: 01 két bạc nhãn hiệu Việt Tiệp - K40 (Thông số kỹ thuật: Két bạc bằng kim loại nhãn hiệu số seri 3062; tỷ lệ trùng chìa 1/1000; tỷ lệ trùng số 1/1.000.000; kích thước 610x350x270; trọng lượng 110±5kg; độ dày lớp sơn 0.3mm; cách nhiệt 1.2000 C/1h) đã qua sử dụng có giá 1.150.000 đồng.

Bản cáo trạng số 30/CT-VKS ngày 14/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo Tô Xuân H2 về tội trộm cắp tài sản theo điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo nhận tội và không kêu oan.

Ý kiến của những người tham gia phiên tòa được Tòa án triệu tập:

Bị hại: Ngày 24/01/2021, gia đình bị phá khóa cửa, phá két sắt và bị trộm cắp tài sản gồm: 50.000.000 đồng tiền mặt; 01 nhẫn vàng mặt vuông 3 chỉ; 01 nhẫn vàng hình tròn 2 chỉ; 01 dây chuyền vàng 05 chỉ các mắt có hình tròn bên trong rỗng; 01 cây vàng loại 9999 Nam Chính và 01 cây vàng 9999 Hương Tuyết. Trị giá tài sản và tiền là 213.700.000 đồng và thiệt hại 01 két sắt trị giá 1.150.000 đồng. Đây là tài sản chung vợ chồng do vợ chồng lao động tích cóp được. Tại phiên tòa, bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tài sản đã chiếm đoạt và bị thiệt hại là 214.850.000 đồng. Về chiếc khóa Việt Tiệp không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Về trách nhiệm hình sự, đề nghị xét xử theo pháp luật.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên nội dung quyết định truy tố về tội danh. Rút tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm nguy hiểm. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đầu thú. Bị cáo có bố đẻ Tô Viết H được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng ba đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Quốc tế giúp cách mạng Lào, góp phần tăng cường tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt giữa nhân dân và Quân đội hai nước Việt Lào năm 2003. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểu 17; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Tô Xuân H2 phạm tội trộm cắp tài sản. Xử phạt bị cáo từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật hình sự và các Điều 288; Điều 289; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 587 và Điều 589 của Bộ luật dân sự; Xử buộc bị cáo Tô Xuân Hải phải có nghĩa vụ bồi thường cho ông Nguyễn Đức Tr và bà Trịnh Ngọc Tr số tiền là 214.850.000 đồng.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus màu vàng đồng, đã qua sử dụng của Tô Xuân H2; Tịch thu tiêu hủy 01 két sắt, nhãn hiệu Việt Tiệp, đã qua sử dụng, cánh cửa két sắt bị hỏng; 01 ổ khóa nhãn hiệu Việt Tiệp, đã qua sử dụng, khóa đã bị hỏng; 01 túi vải màu đỏ có nhiều hoa văn, họa tiết kích thước 8x9cm, đã qua sử dụng; 01 thanh kim loại, màu nâu đen đã hoen rỉ, dài 41,1cm, có một đầu tù và một đầu dẹp và 01 thanh kim loại, màu nâu đen đã hoen rỉ, dài 50cm, có một đầu nhọn bốn cạnh, một đầu dẹp lưỡi mỏng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Các ý kiến tranh luận:

Bị cáo: Nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát không có ý kiến tranh luận, đối đáp gì

Các Bị hại nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát không có ý kiến tranh luận, đối đáp gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Hành vi của bị cáo là sai trái. Kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về gia đình và xã hội để trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Lạc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố những người tham gia tố tụng không có khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

Về căn cứ xác định tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 24/01/2021, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản, bị cáo Tô Xuân H2 và Đinh Văn H1 đã có hành vi trộm cắp tài sản gồm 50.000.000 đồng; 01 nhẫn vàng loại 3 chỉ, hình tròn, mặt trên có hình vuông trị giá 16.170.000 đồng; 01 dây chuyền vàng loại 5 chỉ, các mắt nối hình tròn, bên trong mắt nối rỗng, ở giữa dây chuyền có mặt hình trái tim trị giá 26.950.000 đồng; 1 nhẫn vàng loại 2 chỉ, hình tròn trị giá 10.780.000 đồng; vàng dạng miếng loại 1 cây, có khắc chữ 9999 Nam Chính trị giá 54.900.000 đồng; vàng dạng miếng loại 01 cây, có khắc chữ 9999 Hương Tuyết trị giá 54.900.000 đồng. Tổng cộng: 213.700.000 đồng. Hành vi của bị cáo Tô Xuân H2 và Đinh Văn H1 đã cấu thành tội trộm cắp tài sản. Cáo trạng truy tố bị cáo theo điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức và hiểu biết pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo là người có nhân thân xấu. Ngày 31/10/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Tô Xuân Hải với thời hạn 24 tháng, đến ngày 24/11/2019 chấp hành xong. Bị cáo phạm tội trong thời hạn khi chưa được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Về nhân thân: Bị cáo đã 4 lần bị kết án về hành vi chiếm đoạt, mặc dù đã được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học để làm ăn lương thiện mà lại cùng Đinh Văn H1 phạm tội để có tiền tiêu xài cá nhân. Do vậy, cần có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Xét vị trí, vai trò của bị cáo cho thấy:

Đinh Văn H1 là người chủ mưu rủ Tô Xuân H2 đi trộm cắp tài sản. Đinh Văn H1 chuẩn bị công cụ là 2 cây xà cầy, phương tiện xe mô tô, trực tiếp phá khóa cửa, két sắt, trực tiếp lấy tiền, vàng và là người được hưởng phần lớn số tiền, vàng đã chiếm đoạt là 202.920.000 đồng. Sau khi thực hiện tội phạm, đã bỏ trốn gây khó khăn cho công tác điều tra vụ án. Hiện nay, cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố bị can và quyết định tách vụ án đối với hành vi của Đinh Văn H1, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

Tô Xuân H2 là người tiếp nhận ý chí của Đinh Văn H1 về việc trộm cắp tài sản tại Tân Lạc. Bị cáo giữ vai trò đồng phạm giúp sức cảnh giới phía bên ngoài khi Đinh Văn H1 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, là người cùng H1 thay nhau điều khiển xe mô tô đến địa điểm trộm cắp tài sản và sau khi trộm cắp được tài sản, dùng điện thoại của mình soi để cùng H1 kiểm đếm tài sản, ném công cụ để phi tang và được H1 chia cho một nhẫn vàng 2 chỉ có giá trị 10.780.000 đồng.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát rút tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm nguy hiểm đối với bị cáo là có căn cứ. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình; bị cáo đầu thú; bị cáo có bố đẻ Tô Viết H được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng ba đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Quốc tế giúp cách mạng Lào, góp phần tăng cường tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt giữa nhân dân và Quân đội hai nước Việt Lào năm 2003. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có tài sản, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus màu vàng đồng, đã qua sử dụng của Tô Xuân H2. Đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước; 01 két sắt, nhãn hiệu Việt Tiệp, đã qua sử dụng, cánh cửa két sắt bị hỏng; 01 ổ khóa nhãn hiệu Việt Tiệp, đã qua sử dụng, khóa đã bị hỏng; 01 túi vải, màu đỏ có nhiều hoa văn, họa tiết kích thước 8x9cm, đã qua sử dụng của bị hại. Tại phiên tòa, bị hại không yêu cầu được trả lại. Xét thấy, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy; 01 thanh kim loại, màu nâu đen đã hoen rỉ, dài 41,1cm, có một đầu tù và một đầu dẹp và 01 thanh kim loại, màu nâu đen đã hoen rỉ, dài 50cm, có một đầu nhọn bốn cạnh, một đầu dẹp lưỡi mỏng, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị hại đề nghị bị cáo Tô Xuân H2 phải có nghĩa vụ bồi thường số tiền và tài sản đã chiếm đoạt 213.700.000 đồng và thiệt hại chiếc két sắt trị giá 1.150.000 đồng. Tổng cộng là 214.850.000 đồng. Đây là yêu cầu hợp pháp, cần buộc bị cáo và Đinh Văn H1 phải liên đới bồi thường cho bị hại số tiền trên. Tuy nhiên, bị can Đinh Văn H1 hiện nay đang bỏ trốn. Căn cứ vào khoản 1 Điều 585 của Bộ luật dân sự về nguyên tắc bồi thường phải toàn bộ và kịp thời. Do vậy, cần buộc bị cáo Tô Xuân H2 phải có nghĩa vụ bồi thường cho các bị hại toàn bộ số tiền, tài sản đã chiếm đoạt và thiệt hại. Bị cáo có quyền yêu cầu bị can Đinh Văn H1 trả lại cho bị cáo số tiền đã bồi thường theo phần theo quy định tại khoản 2 Điều 288 của Bộ luật dân sự khi có yêu cầu.

Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tô Xuân H2 phạm tội trộm cắp tài sản.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tô Xuân H2 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (Ngày 30/01/2021).

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật hình sự; các Điều 288; Điều 289; khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; khoản 1 Điều 586; Điều 587 và Điều 589 của Bộ luật dân sự;

Xử buộc bị cáo Tô Xuân H2 phải có nghĩa vụ bồi thường cho ông Nguyễn Đức Tr và bà Trịnh Ngọc Tr số tiền là 214.850.000 (Hai trăm mười bốn triệu tám trăm năm mươi nghìn) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus màu vàng đồng, đã qua sử dụng của bị cáo Tô Xuân H2.

Tịch thu tiêu hủy 01 két sắt nhãn hiệu Việt Tiệp, đã qua sử dụng, cánh cửa két sắt bị hỏng; 01 ổ khóa nhãn hiệu Việt Tiệp, đã qua sử dụng, khóa đã bị hỏng; 01 túi vải, màu đỏ có nhiều hoa văn, họa tiết kích thước 8x9cm, đã qua sử dụng; 01 thanh kim loại, màu nâu đen đã hoen rỉ, dài 41,1cm, một đầu tù và một đầu dẹp và 01 thanh kim loại, màu nâu đen đã hoen rỉ, dài 50cm, có một đầu nhọn bốn cạnh, một đầu dẹp lưỡi mỏng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 30/BB-THA ngày 20/9/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Lạc và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Lạc).

5. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 10.742.500 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ